Chống lạm dụng ma túy, phòng nhiễm hiv

Theo thống kê bước đầu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội ở nước ta có trên dưới 180 nghìn người nghiện ma túy, trong đó thanh thiếu niên chiếm 70%. Ma túy dẫn đến hiệu quả xấu cho sức khỏe, cho hạnh phúc gia đình và an ninh xã hội; đặc biệt việc tiêm chích ma túy đã làm lây truyền HIV/AIDS rất nhanh. Hiện nay có đến 80% số nhiễm HIV ở nước ta là do tiêm chính ma túy. Do đó công tác phòng chống lạm dụng ma túy và nhiễm HIV đã trở nên vấn đề cấp bách của toàn xã hội. Ngay sau khi có Nghị quyết 06/CP của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Chương trình quốc gia về phòng chống và kiểm soát ma túy, công tác phòng chống lạm dụng ma túy đã thu được một số kết quả đáng kích lệ. Về việc giải quyết vấn đề cây thuốc phiện, qua điều tra tại 643 xã thuộc 63 huyện của 12 tỉnh qua các năm 1985-1986 trồng 19.049 ha thì đến vụ năm 1993-1994 chỉ còn 3.770 ha. Hiện nay trên toàn quốc gần 80% diện tích cây thuốc phiện còn gieo trồng là ở Nghệ An và tập trung chủ yếu là ở huyện Kỳ Sơn. Về công tác kiểm soát, chống sản xuất, vận chuyển, tang trữ, buôn bán và sử dụng các chất ma túy cũng có nhiều nét mới. Đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng công an, biên phòng, hải quan, với các ngành, đoàn thể xã hội. Công tác cai nghiện ma túy và giải quyết các vấn đề xã hội đối với tệ nạn nghiện hút và tiêm chích ma túy thu được nhiều kết quả tốt: Đã khám phá và bắt giữ 2.300 vụ với 5.446 đối tượng, triệt phá 2.256 ô nhóm tiêm chích, số người được cai nghiện tại trung tâm và cộng đồng là 9.033 người. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục phòng chống ma túy được thực hiện bằng nhiều hình thức truyền thông và bằng các ấn phẩm phong phú đa dạng. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng chống và kiểm soát ma túy đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể. Nhiều dự án đã và đang được chuẩn bị thực hiện ở nước ta như: Dự án hỗ trợ kiểm soát cây thuốc phiện ở miền núi; dự án ngăn chặn HIV trong những người nghiện ma túy; dự án các phương pháp giảm cầu ma túy và ngăn chặn HIV/AIDS dựa vào cộng đồng… Ngoài ra còn có hai dự án khác do Ủy ban phòng chống ma túy của ASEAN tài trợ: Dự án tăng cường các chương trình thông tin phòng chống ma túy.
Bùi Thu Hương – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Thí điểm vận động vệ sinh môi trường

Thực hiện chỉ thị 200 của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, được sự hỗ trợ của UNICEF, đầu năm 1994 Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã triển khai Đề án thí điểm truyền thông vận động vệ sinh môi trường tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Hải Hưng, Hải Phòng nhằm thay đổi nhận thức của nhân dân, đặc biệt là phụ nữ về vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch, vệ sinh cá nhân tiến tới thay đổi các hành vi thói quen, phong tục không văn hóa mất vệ sinh, xây dựng các công trình vệ sinh và nước sạch, sử dụng bảo quản tốt và duy trì có hiệu quả các công trình này. Qua khảo sát ở 35 xã thuộc các tỉnh có dự án cho thấy: tập quán sử dụng phân tươi để bón ruộng, nuôi cá phổ biến ở nhiều nơi, hiểu biết của phụ nữ về vệ sinh môi trường còn thấp (92% trong 1750 mẫu khảo sát chưa biết gì về vệ sinh môi trường; hầu hết phụ nữ không biết cần rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, hiện tượng uống nước là vẫn còn phổ biến; mới có khoảng 1,9% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, người dân không có cơ hội tiếp cận với các thông tin về vệ sinh môi trường; thiếu cán bộ làm công tác truyền thông vệ sinh môi trường. Sau khi tiến hành khảo sát, hội đã chọn những người có khả năng, nhiệt tình công tác để huấn luyện thành các tuyên truyền viên trực tiếp vận động và chuyển tải các thông tin về vệ sinh môi trường nước sạch tới tận tay người dân. Ban chỉ đạo dự án các cấp đã được thành lập với sự tham gia của chính quyền, các đoàn thể, ban, ngành. Hội đã tổ chức chiến dịch truyền thông mang tên “Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường” nhằm gây ấn tượng mạnh và lôi kéo sự tham gia của toàn thể nhân dân. Nắm chắc hoàn cảnh của từng đối tượng để vận động cho phù hợp như những gia đình chuẩn bị làm nhà, sửa nhà, những gia đình có điều kiện, gia đình cán bộ gương mẫu, thành viên ban chỉ đạo…. Cùng với sự mềm dẻo và kiên trì thuyết phục, Hội còn kết hợp với các biện pháp của chính quyền như cho phép sửa nhà với điều kiện phải xây hồ xí hợp vệ sinh, cấp đất làm nhà kèm theo cam kết phải xây hồ xí… để làm tăng số lượng các công trình vệ sinh. Để động viên cố gắng của các gia đình, nhiều địa phương đã hỗ trợ cho mỗi hộ tình nguyện xây nhà tiêu từ 1 bệ xí, 1 bao xi măng đến 60 -70 ngàn đồng. Ngoài việc xây nhà vệ sinh. Hội còn phối hợp với ngành y tế, chương trình nước sạch giúp các gia đình đào giếng, làm giếng bơm tay, tìm tòi giới thiệu nhiều mẫu nhà tiêu, dụng cụ chứa nước phù hợp để dân lựa chọn. Hội phụ nữ còn vận động nhân dân làm hố rác, nhà tắm, tổ chức được 2 cơ sở sản xuất bệ xí ở tỉnh Hải Hưng theo yêu cầu của hội phụ nữ…. Điều lớn nhất là đã gây được ý thức trong nhân dân đặc biệt là phụ nữ về sự cần thiết phải xây dựng, sử dụng và bảo quản các công trình nước, vệ sinh, giữ gìn môi trường.
Hồng Ngọc – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Đình sản biện pháp tránh thai vĩnh viễn

Đình sản nam (hay thắt ống dẫn tinh) là biện pháp tránh thai vĩnh viễn ở nam giới. Bằng một phẫu thuật nhỏ, chỉ cần gây tê tại chỗ với hai vết rạch nhỏ ở bộ phận sinh dục nam để cắt và thắt ống dẫn tinh. Do đã cắt ống dẫn tinh nên tinh trùng không lọt được vào tinh dịch. Khi giao hợp, người đàn ông vẫn xuất tinh nhưng vì trong tinh dịch không có tinh trùng nên không thể gây ra thụ thai. Ưu điểm của thủ thuật này là an toàn, đơn giản, hiệu quả cao (tỷ lệ thất bại chỉ khoảng 0,1-0,5%); đặc biệt là không hề làm thay đổi giới tính.
Đình sản nữ (hay thắt vòi trứng) là biện pháp tránh thai vĩnh viễn ở nữ, áp dụng với những phụ nữ không muốn có con. Bằng một phẫu thuật làm tắc ống dẫn trứng, ngăn cản không cho tinh trùng gặp trứng do đó không xảy ra thụ thai. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả tránh thai cao, tỷ lệ thất bại dưới 1%, phù hợp với những phụ nữ không muốn có con hoặc có nguy cơ cho sức khỏe khi có thai. Song thủ thuật này phải được nhân viên y tế có trình độ kỹ thuật cao, và phải được tiến hành ở cơ sở có thiết bị chuyên môn đầy đủ. Hiện nay ngày càng có nhiều cặp vợ chồng tình nguyện tránh thai theo phương pháp này. Ở nước ta, chỉ riêng năm 1993, số người đình sản nam, nữ đạt gần 130000 người, bằng số người đình sản của hàng chục năm trước đó cộng lại.
“Thủ phạm” gây bệnh là lợn!
Cho tới nay các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ hai loại virut đã “chung đụng” với nhau như thế nào và ở đâu để rồi sản sinh ra những đứa con quái ác. Chúng ta đã biết, dịch cúm bao giờ cũng gây những hậu quả nặng nề, nếu như hệ thống miễn dịch của người bệnh phải đối phó với một loại virut hoàn toàn xa lạ, chẳng hạn như virut sinh ra do sự lai giống giữa virut của loài chim với virut gây cho người trong trận dịch 1957 ở châu Á và trận dịch cúm Hồng Kông 1968. Virut sinh sôi nảy nở trong ruột chim và theo phân ra ngoài làm sao chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người? Một nhóm các nhà vi sinh học ở I-ta-li-a và Mỹ đã tìm ra lời giải đáp khi nghiên cứu tế bào phôi của những con lợn bị virut cúm ở người và virut cúm ở chim tấn công. Họ là những người đầu tiên đưa ra được bằng chứng việc lai giống virut xảy ra ở con vật trung gian là lợn. Vì đường hô hấp của con lợn là “cái thùng rộng lý tưởng cho các tác nhân gây bệnh cúm mới” đối với con người.
Nam Nam – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Cây rau – cây thuốc

Trong tinh dầu sả, có chứa geraniol và citronella là hai hoạt chất chủ yếu có nhiều tác dụng tốt trong phòng bệnh và chữa bệnh. Sả rất dễ trồng, mỗi gia đình nên trồng ở bờ giếng, hoặc ở góc vườn, một vài bụi sả và biết sử dụng nó:
-Muối sả: giã muối với củ sả, nếu cho thêm một tí mì chính là bạn có một loại bột chấm có thể ăn với bất kỳ thức ăn gì. Tác dụng của muối sả: ăn ngon miệng, chống nôn, trị chứng đau bụng do sình hơi, đau lâm râm do ăn thức ăn ôi.
-Ướp thịt trước khi nấu: thịt bò, thịt chó… ướp sả sẽ giúp chống mùi tanh, đồng thời nó cũng có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn gây bệnh như lỵ, thương hàn, viêm phổi…. Thịt ướp sả sẽ giữ lâu, chậm ôi.
-Nước xông có sả: có thể chống cúm, chống viêm họng, cảm lạnh, sốt. Nhà có người ốm lâu, nấu nồi nước sả để có hơi sả sẽ xua đuổi ruồi, muỗi và các loại côn trùng khác…
-Rễ sả giã nát: lấy nước bôi cho vết chàm của trẻ em.
-Nước sả đun đặc có thể dùng làm thuốc chữa đau bụng đầy hơi, có thể thông trung tiện, chống nôn.
-Sả cùng với bồ kết, lá bưởi, hương nhu là loại nước gội đầu cho phụ nữ, tắm cho trẻ em và người ốm… vừa thơm vừa sạch lại vừa chống được mụn nhọt.
Một biện pháp tránh thai đang được quan tâm
Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược tronh những năm qua ở nước ta là đã huy động được lực lượng của toàn xã hội tham gia vào hoạt động dân số là kế hoạch hóa gia đình. Công tác này đã được xác định là trách nhiệm của từng địa phương, từng cộng đồng làng, xã và đang trở thành mỗi quan tâm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng. Việc lựa chọn biện pháp kế hoạch hóa gia đình phải đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và thích hợp. Vì lẽ đó, chương trình kế hoạch hóa gia đình đã chủ trương đa dạng hóa các biện pháp tránh thai. Đây là một trong những mô hình xây dựng nguồn lực nhằm bảo đảm cho chương trình được thực thi trong phạm vi cả nước giai đoạn 1996-2000. Cùng với việc tiếp tục vận động làm tăng số người sử dụng các biện pháp tránh thai quen thuộc như: đặt dụng cụ tử cung, mở rộng việc phân phối viên thuốc thuốc tránh thai, bao cao su hay các biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kính… xu hướng phổ biến hiện nay đối với những người đã có gia đình, có đủ số con mong muốn là tự nguyện chấp nhận thực hiện đình sản. Đây là một biện pháp đã được nhiều người trên thế giới sử dụng nhất: tới 165 triệu người trong năm 1990, nhiều gấp hai lần số người đặt vòng tránh thai (85 triệu). So với các biện pháp khác, biện pháp đình sản nam, nữ có những ưu điểm đáng quan tâm.
B.T – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Viện vacxin và những thành tựu đã được

Có lẽ hiếm nơi nào độc đáo như Viện Vacxin – Viện khoa học đặt trụ sở ở 2 nơi thắng cảnh của đất nước Nha Trang và Đà Lạt
Thành lập tháng 11-1978 theo quyết định của Bộ Y tế với nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất vacxin Nha Trang, Đà Lạt đến nay vừa tròn 16 tuổi
Viện gồm có 3 cơ sở. Bộ phận sản xuất tách từ Viện Pasteur Nha Trang cũ. Viện Pasteur Đà Lạt và Trại chăn nuôi súc vật thí nghiệm Suối Dầu. Cả 3 cơ sở đều in dấu chân và kỷ niệm người sinh thành phát hiện ra nó 100 năm trước đây, Bác sĩ Yersin (1863-1943)
Kế tục sự nghiệp của Luis Pasteur gần 300 trí thức công nhân trẻ của viện Vacxin đã tiếp thu kiến thức và phương tiện hiện đại sản xuất hàng năm, hàng triệu liều vacxin huyết thanh phục vụ tiêm chủng cho cả nước
Nổi bật nhất là thành tích sản xuất thành công vacxin bạch hầu ho gà, uốn ván hấp phụ (DPT, trên dây truyền công nghệ hiện đại do Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEFF) tài trợ. Chất lượng vacxin Bộ y tế cấp giấy phép lưu hành trong cả nước từ 1991. Số lượng vacxin DPT hằng năm cung cấp cho chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (EPI) ngày một nâng cao. Từ 1 triệu liều/năm, 1991 đến 1994 đã đạt được 4 triệu liều thay thế phần lớn vacxin ngoại nhập hiện nay
Ngoài ra, Viện vacxin còn là nơi duy nhất trong cả nước sản xuất vacxin uốn ván hấp phụ (TT) dùng cho phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh, vacxin dại đông khô và kháng huyết thanh trị bệnh các loại trên người sản xuất từ máu ngựa
Sau 5 năm (1988-1993) Viện đã xuất xưởng tăng 4 lần số lượng vacxin TT, 5 lần số lượng vacxin đại và kháng huyết thanh. 10 lần vacxin BCG
Hiện nay viện đang tiếp tục mở rộng các mặt hàng mới: vacxin phòng tả uống và phòng thương hàn sống uống, kháng huyết thanh đại và trị rắn độc cắn
Từ 1992, Viện hình thành 1 đơn vị kinh doanh độc lập thị điểm mang tên “Công ty trách nhiệm hữu hạn sinh phẩm y học Biophar với một số mặt hàng chủ lực là Biosubtyl (thuốc trị tiêu chảy), kháng huyết thanh tụ huyết trùng thú y, các vacxin huyết thanh thú y khác
Tất cả các sản phẩm Viện đều được kiểm tra chất lượng chặt chẽ theo quy định quốc tế đối với thuốc. Viện có 1 phòng kiểm định với đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo bài bản và các trang thiết bị hiện đại đủ sức đảm đương nhiệm vụ này
Với những thành tích nổi bật trong năm 1988-1993, Viện đã được Nhà nước tặng huân chương lao động hạng 3. Trong lễ đón nhận huân chương vào ngày kỷ niệm 15 năm thành lập Viện PGS, viện trưởng Nguyễn Thị Kê đã trích lời nhận xét của chuyên gia UNICEF khi đến Viện năm 1993: “Trước đây khi đến thăm lần đầu tôi không tin ở đây sản xuất được vacxin, lần này thật ngỡ ngàng với những đổi thay và những hành động của Viện vacxin”
Chặng đường trước mắt còn dài và đầy chông gai với một viện khoa học quá trẻ như Viện Vacxin nhưng bằng những thành tựu bước đầu ấy họ đã tự khẳng định mình.
Lê Văn Hiệp – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – 1995

Tiếp tục với một số quy định dùng thuốc

12. Không nhất thiết phải uống thuốc sau khi ăn, hãy chú ý chỉ dẫn trên nhãn hộp thuốc, nếu có ghi “uống sau khi ăn” thì nên làm đúng như thế, vì nếu sai thuốc có thể làm tẩy bao tử của bạn đấy!
13. Trong thời gian điều trị, nếu bạn chán ăn, bỏ bữa, xin đừng bỏ thuốc luôn. Hãy uống một ly nước đầy và một chút thuốc ăn, một chút thôi cũng được, như: cái bánh chẳng hạn, rồi uống thuốc
14. Nếu nhãn thuốc ghi “uống thuốc với bao tử trống”, thì bạn phải uống thuốc ít nhất 1 giờ hoặc 2 giờ sau khi ăn. Nhiều loại thuốc được hấp thu nhanh hơn và hoàn toàn hơn trong tình trạng bao tử trống (đó là một số thuốc kháng sinh đặc biệt và thuốc ngủ)
15. Kết quả của thuốc sẽ thay đổi nếu lúc thì dùng thuốc khi no, lúc thì dùng khi đói
16. Nếu là thuốc viên, uống với ít nhất nửa ly nước để giúp thuốc trượt qua cổ họng dễ dàng. Tốt nhất là nên dừng uống thuốc, chất lỏng giúp thuốc được hấp thụ tốt hơn và làm giảm sự xót bao tử
17. Nếu bạn thay đổi chế độ ăn kiêng đột ngột hoặc bị sụt cân trong khi điều trị. Hãy thông báo tát cả những điều đó với bác sĩ của bạn. Vì tác dụng của thuốc có thể thay đổi bởi bác sĩ kê đơn lúc cân nặng của bạn ổn định và chế độ ăn bình thường
18. phần lớn vitamin bổ sung có thể làm thay đổi kết quả của thuốc. Do đó bạn không được tự ý thêm hoặc bớt vitamin trong liều thuốc
19. Không nên trộn thuốc với nước nóng rồi uống, độ nóng có thể phá hủy một số tác dụng cần thiết
20. Nếu bạn thắc mắc về việc dùng thuốc của bạn hoặc người thân (do nhãn thuốc ghi không rõ) hãy hỏi bác sĩ của bạn hoặc một dược sĩ có uy tín
21. Bác sĩ có trách nhiệm giúp bạn hiểu về cách uống thuốc thể nào để đảm bảo an toàn
22. không chứa thuốc trong tủ lạnh nếu bác sĩ của bạn hay dược sĩ không dặn. Nếu trong nhà có trẻ con, thuốc không thật ăn toàn trong tủ lạnh đâu
23. Tuyệt đối giữ an toàn thuốc với trẻ con, kệ cao trẻ vẫn có thể lấy được đấy!
24. Bọn trẻ thường bị “gợi thèm” bởi những hộp, ống kem và những lọ thuốc mỡ. Chúng có thể làm hại da trẻ hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng nếu chúng nuốt. Vì vậy, bất cứ lúc nào những thứ đó phải có ở trong tủ khóa
25. Nên dán lên các nhãn thuốc bằng loại băng keo trong để ngăn ngừa nhãn bị nhòe, khó nhìn. Bạn sẽ bị lầm thuốc đấy
Mỹ Ngọc – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – 1995

Thành công của các “chiến sĩ đặc nhiệm”

Những kết quả ban đầu của các “chiến sĩ đặc nhiệm” “giáo dục đồng đẳng”.
Sau một thời gian hoạt động, các chị ở nhóm nữ đã vào tuyên truyền được 100/126 khách sạn, nhà hàng, vũ trường, đã phát 12.000 bao cao su, 2.800 tờ rơi (riêng tờ rơi bằng tiếng Anh phát trong 6 tháng đầu năm 1995 là 1.700 tờ). Số dây đeo chìa khóa đưa vào khách sạn có đính theo bao cao su là 1.400. Đã vận động được 102 nhân viên khách sạn, gái mại dâm, mát-xa đi khám bệnh lây qua đường tình dục, và 89 gái mại dâm bỏ nghề.
Trong tổng số 373 người nghiện chích ma túy của quận, nhóm nam đã vận động đi cai nghiện được 205 người, số lần nhóm giáo dục đồng đẳng tiếp cận là 150, số người được truyền thông là 370 người, đổi 80 bơm kim tiêm, phát 1.300 bơm kim tiêm mới, vận động 3 người tự nguyện đi chữa bệnh lây qua đường tình dục.
Có mâu thuẫn giữa việc trấn áp, ngăn chặn tệ nạn mại dâm – ma túy với việc “giáo dục đồng đẳng” hay không?
Tôi gặp Đại úy Bùi Xuân Đại, Trưởng công an phường P.L. (một địa bàn thời gian qua đã làm rất tốt công việc chống tệ nạn mại dâm, ma túy bao gồm cả trấn áp lẫn giáo dục và tạo công ăn việc làm cho các đối tượng để hỏi vấn đề này. Anh khẳng định hoàn toàn không có sự mâu thuẫn nào. Các công việc không hề “dẫm chân lên nhau” hoặc “nối giáo cho giặc” hay “nuôi ong tay áo” như một số người lầm tưởng. Anh cho biết, chỉ thị 05, 06 là ngăn chặn, trấn áp mại dâm, ma túy, còn chỉ thị 20 là biện pháp phối hợp để giải quyết hậu quả nghiêm trọng của HIV/AIDS. Người góp phần giải quyết hậu quả, phòng chống lây lan HIV/AIDS chính là các “chiến sĩ đặc nhiệm” trong hai nhóm giáo dục đồng đẳng nói trên. Còn chị Trần Thị Minh Tân – Chủ tịch Ủy ban phòng chống AIDS quận Đống Đa thì vui vẻ nói: “Các cấp chính quyền cần giải thích cho nhân dân hiểu chỉ thị 05, 06 là kim chỉ nam cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS, còn chỉ thị 20 là biện pháp phối hợp thực hiện mang tính chất nhân đạo”.
Đôi lời kiến nghị
” Mô hình giáo dục đồng đẳng” hay nói khác đi mô hình “lấy độc trị độc”, đã có thời gian thử thách ở quận Đống Đa và quận I thành phố Hồ Chí Minh và đã chứng minh được sự cần thiết của nó trong các biện pháp can thiệp phòng chống AIDS tại cộng đồng. Bước đầu biện pháp này đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ và nếu được nhân rộng ra cả nước nhất định kết quả còn lớn hơn nhiều.
Vũ Phượng Ngọc – Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995