Khi bé bị viêm tai giữa

2 phần 3 số trường hợp viêm tai giữa là do vi khuẩn cần phải điều trị bằng thuốc kháng sinh, chỉ có một số ít trường hợp là do virus. Khi tai giữa bị viêm, mủ sinh ra và tích tụ ở phía sau màng nhĩ vì vòi Eustachi tai giữa nối với họng bị tắc, do viêm mủ không chảy qua được làm trẻ bị đau tai và sốt. Nếu không được điều trị, màng nhĩ sẽ thủng và mủ tai chảy ra ngoài. Lúc này áp lực trong tai giảm xuống, trẻ đỡ đau hơn hết sốt nhưng sức nghe giảm vì màng nhĩ bị thủng. Một số trường hợp, lỗ thủng ở màng nhĩ tự liền lại khi được điều trị, nhưng những trường hợp khác tai tiếp tục chảy mủ, màng nhĩ không liền được, nếu trẻ vẫn nghe kém. Ngoài ra, ở một số trẻ do không phát hiện và điều trị kịp thời, viêm tai giữa có thể lan lên xương chũm, gây viêm xương chũm, hoặc lên não gây viêm não. Vậy làm thế nào để biết trẻ đã bị viêm tai giữa. Nếu người mẹ thấy con mình có những dấu hiệu sau đây như chảy mủ tai, đau tai, hoặc có thêm vài dấu hiệu như sốt, kích thích, chán ăn, nôn hoặc tiêu chảy… cần nghĩ đến có thể cháu bị viêm tai giữa. Lúc này người mẹ nên đưa con đến bác sĩ tai – mũi – họng để khám. Nếu bác sĩ soi tai thấy màng nhĩ đỏ không di động thì chắc đã bị viêm tai giữa nếu trẻ bị chảy máu mủ tai trong hai tuần là bị viêm tai giữa cấp nếu chảy mủ trên hai tuần là viêm tai giữa mạn tính. Khi đã xác định là trẻ bị viêm tai giữa, ngoài việc cho cháu điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc, các bà mẹ cần làm khô tai trẻ bằng cách sau: gấp và cuộn tờ giấy thấm hoặc mảnh vải bông sạch thành hình sâu kèn, không dùng tăm bông, tăm que hoặc giấy viết. Đặt sâu kèn vào tai cho trẻ đến khi thấm ướt mủ. Lấy sâu kèn ra, đặt tiếp một sâu kèn mới khác, làm như vậy cho đến khi tai khô. Làm khô tai theo cách trên ít nhất là 3 lần trong một ngày cho đến khi tai khô. Thường phải làm từ 1 tuần đến 2 tuần tai mới khô hẳn. Viêm tai giữa sau khi đã được điều trị, rất hay bị tái phát. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước công nghiệp cho thấy những trẻ không được bú sẽ mẹ, trẻ bị viêm tai giữa cấp trong 6 tháng đầu của cuộc đời, trẻ có cha, mẹ hoặc anh chị em có tiền sử viêm tai, trẻ bị hở hàm ếch ngay cả sau khi đã được mổ chữa, rất dễ bị mắc viêm tai giữa tái phát. Bởi vậy đề phòng chống viêm tai giữa cho trẻ trong năm đầu cuộc đời, các bà mẹ nên nuôi con bằng cách cho bú sữa mình.
Continue reading “Khi bé bị viêm tai giữa”

Cây đào cho hoa đẹp vị thuốc hay

Hoa đào rất đẹp, biểu trưng cho mùa xuân và tết đến. Hoa đào, hạt đào, lá rễ và nhựa được dùng để làm thuốc. Hoa đào theo y học phương Đông, hoa có tính bình, vị đắng, có tác dụng chữa thủy thũng và bí đại tiện, hoạt huyết. Hoa đào tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc, nhưng hoa tươi đặc biệt là loại mới chớm nở, hoặc sắp nở tốt hơn khô và hoa khô cũng chỉ dùng trong phạm vi một năm, nếu để lâu mất tác dụng. Theo Bản thảo cương mục của danh y Trung Quốc Thời Trân thi hoa đào có tính đi xuống thông đại tiện rất nhanh, có tác dụng tiêu tích trệ, toàn thân phù thũng… Theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh danh y nước ta thế kỷ 14, phụ nữ có thể dùng bài thuốc hoa đào làm đẹp nhan sắc, hoa đòa thu hái về, chích lấy máu mào gà thượng tuần tháng 7, trộn đều bôi lên mặt từ 2 ngày đến 3 ngày sau thuốc tróc đi thì nhan sắc tươi sáng như hoa. Hoa đào phối hợp với hạt vông vang, hoạt thạch, hạt cau già với liều lượng bằng nhau, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mỗi lần uống một ít khoảng từ 5 gram đến 6 gram với nước sắc hành trắng vào lúc đói để chữa hậu sản, đại tiện không thông. Người xưa thường dùng 10 bông hoa đào đến 15 bông hoa đào sắc lên uống chữa bí đại tiểu tiện. Hoặc lấy hoa đào ngâm với mật ong để ăn có tác dụng bổ ngũ tạng, tiêu phù thũng, thông đại và tiểu tiện. 

Continue reading “Cây đào cho hoa đẹp vị thuốc hay”

Nghịch lý ngoại tình

Chị Nguyễn Thị T ở phố Cầu Gỗ – Hà Nội, được đưa đi cấp cứu và thoát khỏi cái chết. Tuy nhiên, hiện nay chị không còn được như người bình thường vì đã bị loạn thần kinh, luôn nói lảm nhảm và đi lang thang suốt ngày. Nguyên do từ lâu biết chồng mình có cặp bồ với một người phụ nữ khác, chị đã cố gắng khuyên răn, mong anh sớm quay về để vợ chồng vui vẻ bên nhau. Song càng ngày anh ta càng tồi tệ và trắng trợn hơn làm chị không chịu nổi nên quyết định nhảy từ tầng 3 xuống để kết thúc cuộc đời mình. Nào ngờ cuộc sống của chị lại khốn khổ như vậy. Riêng ông chồng vẫn nhởn nhơ với tình nhân mà không mảy may có chút tình thương tới người vợ trước đó đã từng chung chăn gối với mình.

Continue reading “Nghịch lý ngoại tình”

Hướng dẫn mua đèn xe đạp trong những chuyến đi

 Nếu bạn chỉ đạp xe trên đường có đèn được thắp sáng khi tối, thì những chiếc đèn phim nhỏ, yếu (loại đi kèm với nhiều chế độ đèn flash), sẽ phù hợp. Nếu bạn mạo hiểm đi trên những con đường tối, hoặc đường ở vùng nông thôn, bạn cần một thứ có ánh sáng mạnh hơn. Do đó, đèn xe đạp có thể được chia ra làm 2 loại – những chiếc đèn cho phép bạn có thể nhìn thấy mọi thứ, và những chiếc đèn đảm bảo rằng bạn sẽ được người khác nhìn thấy. Continue reading “Hướng dẫn mua đèn xe đạp trong những chuyến đi”

Chuyện buồn ngày xuân

6 em nhỏ bị chết, 6 em khác bị thương vào đầu tháng 2 năm 1998 giữa lúc xuân về chẳng phải vì pháo mà vì bom. Nguyên do các em ở ấp An Lợi – Tri Tôn – An Giang đi chăn bò nhặt được quả bom bị sót lại từ trong chiến tranh, tò mò nghịch dại khiến bom nổ đã gây nên chuyện buồn trên. Nhà trường gia đình và các địa phương nên chú ý nhắc nhở các em.

Continue reading “Chuyện buồn ngày xuân”

Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở

Từ ngày 27 đến 28 tháng 3 năm 1998 tại phân viện đại học y Hải Phòng, bộ y tế đã tổ chức Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở nhằm đánh giá công tác đào tạo bác sĩ chuyên tu trong thời gian qua và bàn biện pháp thực hiện mục tiêu chiến lược đến năm 2000 có 40% số xã có bác sĩ. Phó giáo sư Lê Ngọc Trọng, thứ trưởng bộ y tế đã tham dự và chỉ đạo nội dung hội nghị. Tham dự hội nghị còn có các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của vụ khoa học, đào tạo bộ y tế và 9 trường, khoa đại học y có đào tạo bác sĩ chuyên tu. Hội nghị khẳng định, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo các bác sĩ chuyên tu tăng cường cho tuyến y tế cơ sở, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, xem xét sửa đổi chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay.

Continue reading “Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở”

Hội nghị triển khai kế hoạch phòng chống ma túy

Ngày 30 tháng 3 năm 1998, sở y tế Hà Nội đã tổ chức Hội nghị 
phòng chống ma túy. Năm nay ngành y tế Hà Nội sẽ tổ chức cai nghiện cho hơn 2 ngàn người nghiện, điều trị cắt cơn cai tại 5 quận trọng điểm của Hà Nội là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Gia Lâm và tại 30 xã, phường 12 quận huyện. Các phương pháp điều trị sẽ được thực hiện là phương pháp điều trị lâu dài dựa vào cộng đồng, kết hợp giữa ba mặt sinh học, tâm lý và xã hội. Sở y tế Hà Nội sẽ phối hợp với công ty dược phẩm và thiết bị y tế cung ứng cho thuốc cắt cơn nghiện, trước mắt là bài thuốc HUFUSA của lương y Bùi Thị Phúc đã được bộ y tế cho phép sản xuất và sử dụng tại các trung tâm cai nghiện.

Continue reading “Hội nghị triển khai kế hoạch phòng chống ma túy”

Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 2

Ở đây cũng cần có tinh thần khách quan để nói rằng mô hình khoa học Mỹ cũng rất đặc thù, nói không thể hoặc rất khó áp dụng ở các nước khác bởi lẽ Hoa Kỳ là một nước giàu có nhất thế giới. Là thanh nam châm cực mạnh hút những nhà bác học hàng đầu từ tất cả các nước. Nó là nơi hút chất xám chứ không bị cháy chất xám. Ngoài A. Einstein, Fermi thì riêng các nhà bác học Nga sang Mỹ những hướng đi mới trong các lĩnh vực hàng không, hóa học, kinh tế học và di truyền học. Hiện nay, nền khoa học và công nghệ Mỹ về thực chất là sản phẩm tổng hợp của nền khoa học toàn thế giới. Tất cả các tài năng khoa học được phân bố đồng đều trên thế giới, nhưng nước Nga thì thật khó có khả năng tập trung các tài năng toàn cầu như nước Mỹ… Từ khi bắt đầu những cuộc cải cách thì trên thực tế, nền khoa học Nga đã thực sự sụp đổ từ trong nguyên văn. Bản thân tính chất của những thay đổi trong cơ cấu các cơ quan khoa học Nga đã làm các nhà khoa học Mỹ ngạc nhiên. Ngân sách khoa học ngày càng giảm, lúc đầu là giảm 2 lần, sau giảm tới 10 lần và 20 lần nhưng biên chế thì vẫn giữ như lúc đầu. Đồng lương của các nhà khoa học ngày càng thấp. Các nhà khoa học đầu ngành rất nổi tiếng có đồng lương từ 100 đô la Mỹ đến 200 đô la Mỹ cho một tháng, một điều không thể hiểu nổi ở Mỹ. Ở Nga vào những năm 80 có khoảng 1,5 triệu nhà khoa học tập trung ở 3 kim tự tháp là 1 hệ thống các viện hàn lâm khoa học các ngành, độc quyền nắm các ngành khoa học cơ bản và không có các mối liên hệ làm việc với sinh viên như ở Mỹ. Hệ thống giáo dục cấp cao ở Ngay, thành phần các nhà khoa học đông gấp 4 lần, ngân sách ít hơn 5 lần so với hệ thống trên. Hệ thống khoa học ứng dụng ở các bộ kể cả tổ hợp công nghiệp quân sự, số nhà khoa học ở hệ thống này bằng số nhà khoa học của cả 2 hệ thống trên và được ưu tiên về ngân sách nó nuốt tới 80 phần trăm tổng ngân sách cho sự phát triển khoa học. Loren R. Graham cho rằng đây là những hình thức tổ chức khoa học đã cũ kỹ lắm rồi. Việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 không những gây ra sự bùng nổ mới những chú ý và quan tâm đối với Liên Xô mà nó còn thực sự thúc đẩy Mỹ phải mau chóng đổ tiền của vào tất cả các lĩnh vực khoa học Mỹ. Theo các chuyên gia phương tây nước Nga cần phải nhất thể hóa 3 kim tự tháp đó lại nếu không thì vẫn như trước đây, nó xảy ra một quá trình kỳ quặc là sự ra đời của tất nhiên viện, ban, phòng, trung tâm khoa học mà hiệu quả rất ít. Nạn chảy máu chất xám cũng là vấn nạn mà nền khoa học Nga đã nếm trải. Nói cho cùng thì hiện nay nền khoa học Nga không chỉ trông đợi ở một cơn mưa tiền mà còn cố gắng gượng để tồn tại. Có như vậy nền khoa học kỹ thuật mới phát triển mạnh.

Continue reading “Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 2”

Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 1

Loren R. Graham giáo sư Trường đại học công nghệ Massachusette là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử nền khoa học và công nghệ Xô Viết, về lịch sử Viện hàn lâm khoa học Liên Xô và về số phận của nhiều nhà khoa học danh tiếng của Liên Xô. Người ta xem ông là chuyên gia có uy tín lớn nhất trong lĩnh vực này. Đặc biệt là ông luôn hứng thú vấn đề về mối liên hệ qua lại giữa triết học của Mác với nền khoa học ở Liên Xô. Loren R. Graham thừa nhận rằng đối với những người Bôn-sê-vich, khoa học và kỹ thuật là một yêu cầu đặc biệt và Lê Nin đã hoàn toàn đúng. Lê Nin đã trang bị cho xã hội mình những thành tựu Khoa học kỹ thuật của phương Tây. Quả thật nền khoa học xô viết đã từng đạt được những thành tựu huy hoàng mà cả thế giới đã từng biết đến. Khoa học Xô Viết đã dẫn đầu thế giới về nhiều lĩnh vực vật lý Plazma, địa chấn học lý thuyết, khí hậu học, nhiều lĩnh vực toán học lý thuyết và ứng dụng, hóa học chất rắn, kim loại học… Sự chú ý và hứng thú của các nhà khoa học và các chính khách phương tây đối với với tiềm năng của nền khoa học Xô Viết chủ yếu phát sinh từ sau những thành công của các dự án nguyên tử, đặc biệt là trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 không những gây ra sự bùng nổ mới những chú ý và quan tâm đối với Liên Xô mà nó còn thực sự thúc đẩy Mỹ phải mau chóng đổ tiền của vào tất cả các lĩnh vực khoa học Mỹ. Có thể nói ở nửa đầu thế kỷ 20, các nhu cầu quân sự của các nước là một động lực của sự phát triển khoa học và công nghiệp. Trong những năm 1945 đến năm 1950, nước Mỹ được nhìn nhận không phải như một hình mẫu để bắt chước mà như một quốc gia xuất phát của mối đe dọa chiến tranh nguyên tử. Chính sách của Tổng thống G. Truman thời bấy giờ là duy trì sự độc quyền nguyên tử. Sự bắt đầu của đối đầu và chiến tranh lạnh đã là động lực chủ yếu phát triển hướng nghiên cứu. Chính vào thời điểm đó, trong cơ cấu của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô thì vật lý có vai trò dẫn đầu, còn trong các khoa học ứng dụng thì ưu tiên thuộc về công nghiệp quân sự. Do sự hạn chế về tài chính về các nguồn lao động và kỹ thuật, bị chiến tranh tàn phá, lại phải tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên nên nhiều lĩnh vực khoa học dân sự của Liên Xô bị đưa xuống hàng thứ hai và chậm bước so với thế giới. Mô hình khoa học Xô Viết, do đó có nét đặc thù, các nhân tố cách mạng và chiến tranh trở nên quan trọng hơn là các nhân tố khác.

Continue reading “Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 1”