Nỗi niềm sinh viên ngày tựa trường

Trong gần 4 nghìn lao động đăng ký tìm việc làm tại Hà Nội thì có tới 70% là những tri thức trẻ tốt nghiệp đại học và cao đẳng. Số sinh viên đến các trung tâm dịch vụ việc làm để xin việc chiếm tỷ lệ tới 70% đến 80%. Rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã chịu khó đi làm tiếp thị, đi bán hàng nữ chiếm khoảng 30% hoặc xin làm gia sư với mục đích kiếm tiền và hy vọng vào cơ hội việc làm sẽ đến.
Từ các trung tâm dịch vụ việc làm
Dạo quanh một vòng các trung tâm dịch vụ việc làm lớn ở Hà Nội, chúng tôi dễ dàng nhận thấy hồ sơ của cử nhân mới ra trường đi xin việc làm chiếm một tỷ lệ rất lớn. Anh Nguyễn Xuân Vi trưởng phòng hành chính của Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên vừa đưa chúng tôi tới văn phòng đăng ký việc làm vừa nói: “Muốn gặp cửa nhân đi xin việc làm thì quá dễ. Ở đây lúc nào mà chẳng có người đến nộp hồ sơ, nhất là cử nhân của các trường đại học dân lập, cử nhân kinh tế, thương mại…”. Tưởng anh Vi nói cho vui, nhưng khi nhìn cảnh cử nhân đứng xếp hàng chờ nộp hồ sơ trong căn phòng của trung tâm, lúc này tôi mới tin. Không ít cử nhân trong bước đầu chọn nghề để đi học theo trào lưu, theo mốt theo quan niệm chứ không hề dựa trên sự lựa chọn chín chắn và năng lực vốn có của mình. Một bộ phận sinh viên chưa thực sự tâm huyết với nghề nghiệp mà mình theo đuổi, luôn có tâm lý hướng về thành phố lớn, nơi mà nhu cầu về việc làm không phải vô hạn. Anh Nguyễn Việt Hưng nhân viên của Trung tâm dịch vụ việc làm số 1B Ngô Quyền cho biết: “Đối tượng sinh viên ra trường khó kiếm được việc làm nhất, do không chấp nhận lao động phổ thông, đòi hỏi một chỗ làm tốt phù hợp với trình độ và kiến thức của mình, muốn thu nhập cao…Trong khi cở các trường đại học kiến thức mà sinh viên thu nạp được lại khác xa với đòi hỏi thực tế. Sinh viên ra trường nhiều thì tỉ lệ trí thức thất nghiệp ngày càng lớn”. Công ty Kim Ngân khi tuyển nhân viên quản lý và giao dịch buôn bán, trong số 150 sinh viên để tuyển gần như đều trượt hết. Đòi hỏi biết vi tính, bằng C tiếng Anh, phản ứng nhanh nhạy khi tiếp cận với thị trường. Vậy mà điều kiện tiếp cận thị trường thì không một sinh viên nào có khả năng đáp ứng. Cử nhân thuộc ngành Khoa học xã hội khi xét tuyển vào các viện nghiên cứu đều bị rớt ngay từ vòng kiểm tra trình độ vi tính. Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược có 7 sinh viên thi tuyển nhưng chỉ có một người đáp ứng gần đủ các yêu cầu về tiếng Anh, vi tính và khả năng điều hành công việc.
Cung và cầu không hài hòa
Như vậy một thực tế giữ cung vào cầu có sự khác biệt rất lớn. Nếu ở trường sinh viên chỉ thụ động thu nạp những kiến thức lý thuyết được truyền dạy thì khi ra trường, cánh cửa việc làm rất khó mở rộng đón họ. Anh Nguyễn Văn Tuấn B5- Tập thể Thành công, sinh viên Đại học Thương mại than thở: “Những kiến thức mà anh thu được trong nhà trường không giúp gì anh xin việc, chủ yếu khi ra trường anh phải học thêm. Qua vài lần thi tuyển anh thấy muốn có việc làm phù hợp cần đầu tư kiến thức, có phản xạ nhạy bén”. Nguyễn Kim Tân, cử nhân kinh tế, tốt nghiệp năm 1995 đến nay vẫn chưa xin được việc làm có nói: “Tôi dự tuyển khá nhiều, nhưng đòi hỏi của họ rất là cao. Kiến thức 4 năm đại học chẳng có gì sát với thực tế cả. Hiện nay tôi đang tham gia một khó tiếp thị bán hàng để có kiến thức”. Một thực tế nữa là sinh viên các Trường đại học Khoa học xã hội có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với sinh viên Khoa học tự nhiên, khoảng 60%. Họ có nói rằng kiến thức được tiếp nhận, chỉ là lý thuyết sách vở, một khối lượng lý thuyết khổng lồ mà chỉ gói gọn trong những 4 năm học. Ông cha ta có câu học đi đôi với hành, nhưng trong thực tế hiện nay, nhất là ở các trường đại học Khoa học xã hội, học được ví như biển lớn còn hành được coi là hạt muối bỏ bể. Còn những cử nhân thuộc ngành Khoa học tự nhiên vẫn chưa xin được việc cho rằng kiến thức ở trường so với thực tế khác xa một trời một vực, mặc dù nghề của họ không khó xin được việc làm nhưng cái quan trọng là không được sử dụng đúng chuyên môn. Nguyễn Văn Ba, sinh viên Bách Khoa: “Ngành học của bọn mình không phải khó xin được việc mà cái chính là có sử dụng đúng chuyên môn của mình không. Để có kiến thức thực tế mình cùng một số bạn mở thêm dịch vụ tin học lắp đặt, sữa chữa máy vi tính, đó chỉ là công việc tạm thời nhưng để lâu dài thì không thể như vậy được, mình phải học thêm những kiến thức để có cơ hội tìm được việc làm phù hợp khả năng và sở thích của mình. Lý do khác khiến cho cung tăng quá cầu: Nhiều khoa thuộc ngành Khoa học xã hội gần như thiếu sinh viên vào các trường Khoa học xã hội ít hơn nhiều so với trường Khoa học tự nhiên trong đó có trường Đại học Bách Khoa, Kiến trúc, xây dựng… Họ cho rằng trong thời buổi kinh tế thị trường như thế này mà học ở trường Khoa học xã hội thì khi ra trường sẽ rất là khó xin việc làm. Hơn nữa các dự án đề tài nghiên cứu lại được đầu tư kém thì làm sao mà có thời gian để chuyên tâm nghiên cứu. Những người đã học ở các khoa xã hội cảm thấy rất là mơ hồ cho tương lai của mình sau khi ra trường. Như Phạm Phương Ly, khoa Đông Phương – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn: “Gần một năm, tôi chẳng biết xin vào đâu khi cầm bằng cử nhân khoa học này. Qua những ngày đi thực tập tôi có nghe nói ở các viện nghiên cứu về Đông Phương không có mấy người, kinh phí cho nghiên cứu ít ỏi, đến ngay cả nhân viên phải đi làm thêm thì làm sao có thể nhận các sinh viên mới ra trường vào làm việc được.
Đức Minh-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 54(866)1998

Định chế gia đình

Mối quan hệ gia đình thấm vào trong máu thịt, trong dòng chảy của đời sống vô thức, nơi bắt nguồn sự ràng buộc và những biến đổi thật sự trong tính cách con người… Dù nó thật tồi tàn nữa nhưng chẳng có nơi nào có thể sánh với mái ấm gia đình. J.H.PAYNE.
Vài chục năm gần đây nhân loại đã quan tâm hơn bao giờ cả đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Thực tế cho thấy tình hình đã đến mức báo động: gia đình bị xói mòn… Chủ đề gia đình đã thành vấn đề quốc tế nằm trong nghị định của Liên hiệp quốc. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 được Liên hiệp quốc chọn làm ngày quốc tế gia đình. Tổng thư ký Liên hiệp quốc kêu gọi chúng ta hãy quay trở lại với những yếu tố cơ bản của gia đình và kêu gọi sự thay đổi trong phạm vi gia đình để cho gia đình không trở thành nơi ẩn náu của những bất công và đau khổ… Dù muốn hay không thì chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin. Mọi chuyện trên thế giới đều đến với chúng ta và không ít chuyện có ảnh hưởng, có những tác động nhất định. Những chuyện về gia đình cũng vậy. Cho nên việc cung cấp thông tin cho thanh niên nước ta suy ngẫm là điều cần thiết, vì xét cho cùng chính họ là những diễn viên chính trên sân khấu gia đình. Việc xây dựng gia đình tốt xấu ra sao sẽ tùy thuộc ở chỗ họ được chuẩn bị như thế nào trước khi bắt tay vào công cuộc vĩ đại và thiêng liêng ấy. Định chế gia đình truyền thống ở nước ta thuộc hệ khiếp kín bao gồm các yếu tố chính: một vợ một chồng, nguyên tắc chung thủy, người chồng phải tiếp tế cho gia đình, sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường, người vợ thường là nội trợ chăm sóc con cái, người chồng chủ yếu hoạt động ở bên ngoài gia đình… Trừ một ít ngoại lệ, với định chế này các gia đình Việt Nam hơn 4 nghìn năm qua đã sống hạnh phúc theo quan niệm của mình. Định chế gia đình được pháp luật bảo vệ. Những điểm tiến bộ trong luật hôn nhân và gia đình ở nước ta đã có mầm móng từ thế kỷ thứ 15, trong Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng đời Lê Thánh Tông. Ngoài những điều ràng buộc nam giới khắt khe, có những điều đặc biệt dành cho phụ nữ, vừa bó buộc, vừa nâng đỡ. Chẳng hạn các điều 314, 315, 321 viết: “…. Lấy chồng lấy vợ là điều cẩn trọng, ai lấy nhau một cách tùy tiện, cẩu thả, thì bị tù tội. Người con gái phải chịu 50 roi…”, “… đã nhận sính lễ mà thay đổi ý kiến phải chịu phạt…”, “… đã lấy nhau rồi mà tự tiện bỏ đi lấy người khác phải chịu tội, phải đền bù tài sản thiệt hại cho chồng cũ…”. Còn các Điều 308, 322 bênh vực phụ nữ thì viết: “… Khi đã hứa hôn mà người đàn ông bị ác tật hoặc tù tội, thì người đàn bà có thể từ hôn. Ngược lại, nếu người đàn bà ác tật người đàn ông không có quyền từ hôn…”, nếu 5 tháng trở lên mà người chồng bỏ rơi, không chăm sóc vợ, người vợ có quyền kêu quan và đi lấy chồng khác…”. Hôn nhân và gia đình vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước ta, vì gia đình là tế bào xã hội. Gia đình có được bền vững thì xã hội mới được phát triển. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc năm 1954, thì đến năm 1959 Bộ luật hôn nhân và gia đình ra đời nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ những hủ tục, những tàn tích phong kiến, ngăn ngừa những ảnh hưởng của chế độ tư sản. Tuy nhiên có thể nói, cũng như trên bình diện toàn thế giới, chưa bao giờ vấn đề gia đình được suy nghĩ, và thực hành sôi nổi như vài chục năm vừa qua. Nhờ đó Bộ luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ra đời như là sự kế thừa và phát triển bộ luật 1959 căn cứ vào các điều 64, 65 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Bộ luật mới này thì:
“Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân về huyết thống và nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân dân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái. Khái niệm hôn nhân, vì hôn nhân mới chỉ sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Còn khái niệm gia đình, ngoài hai chủ thể kết hôn, trong gia đình còn bao gồm cả con cái và những người khác. Những chức năng chính của gia đình gồm: sinh sản, giáo dục, kinh tế. Về thực chất hôn nhân và gia đình là đơn vị vượt lên trên những cá nhân đối tác. Tình bạn, tình yêu, những cảm hứng mà người ta gắn với hôn nhân, tìm kiếm trong hôn nhân tất thảy đều thứ yếu so với ý nghĩa xã hội của hôn nhân và gia đình. Hôn nhân gắn bó đàn ông với gia đình là nguồn gốc của sự kế tục, của bản sắc cá thể, của trật tự xã hội. Gia đình là định chế duy nhất có khả năng làm phát sinh những biến đổi sâu sắc và lâu dài ở nơi các thành viên của nó. Gia đình cũng là định chế duy nhất giúp tạo nên cá tính và những cam kết mang tính chất con người, làm cho con người tham gia tự nguyện vào công cuộc đấu tranh cho tiến bộ xã hội. Thông qua gia đình và quan hệ họ hàng người ta có được sợi dây liên lạc với quá khứ và tương lai. Sở dĩ có khả năng ấy là vì mối quan hệ gia đình thấm vào trong máu thịt, trong dòng chảy của đời sống vô thức, nơi bắt nguồn sự ràng buộc và những biến đổi thực sự trong tính cách. Hôn nhân là sự cam kết giữa hai con người khác giới, nhưng không phải để trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ, mà ngược lại hôn nhân cần thoát khỏi tâm lý trao đổi nói chung. Mỗi bên đối tác tiếp nhận bên kia như một con người trọn vẹn, và vì con người ấy chứ không phải vì cái mà người ấy đồng ý làm cho.
GS. Đoàn Xuân Mượu-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 53(865)1998

Vai U, thịt bắp

Thời xưa hi nói vai u, thịt bắp là có ý miệt thị những người lao động chỉ biết có lao động chân tay cho nên các cơ bắp rất phát triển. Ngày nay những người có cơ bắp phát triển như lực sĩ Lý Đức của Thành phố Hồ Chí Minh được coi là mẫu người khỏe mạnh, đẹp đẽ của nam giới. Cơ bắp được cấu tạo bởi những dải sợi đan vào với nhau một cách chặt chẽ. Khi co vào hoặc giãn ra sẽ dẫn đến cử động của một bộ phận cơ thể. Có loại dùng để co, duỗi nhanh chóng giơ tay, đá bóng, quay đầu… nhưng cũng có loại chỉ để duy trì thế co trong suốt một thời gian dài thí dụ như cơ bắp của cột sống. Sợi cơ có chiều dài khác nhau, nhưng thường chỉ có đường kính dài khoảng 0,009 mm đến 0,01 mm. Mỗi sợi đều có chứa nguyên sinh chất và rất nhiều nhân. Trong nguyên sinh chất có nhiều tơ cơ. Mỗi tơ cơ gồm những đĩa sáng và đĩa tối chồng chất lên nhau. Khi co thì các đĩa tối phình to ra và thu ngắn lại. Khi duỗi các đĩa sáng lại thu hẹp lại và kéo dài ra. Các tổ chức kết thưa đã nối liền các sợi cơ lại thành các bó cơ nhỏ. Chúng họp lại thành những bó cơ lớn. Và nhiều bó cơ lớn họp lại thành cơ bắp. Mạch máu và dây thần kinh nằm ở các tổ chức liên kết thưa. Cơ được bọc bên trong một máng liên kết. Cơ thường được sắp xếp thành từng đôi một, xếp hai bên đối xứng với nhau ví dụ cơ vòng mí phải, cơ vòng mí trái, cơ gò má phải, cơ gò má trái… Cơ thường được sắp xếp theo đường ngắn giữa hai điểm bám điêm cố định và điểm rộng. Các sợi cơ vân được sắp xếp gần như thẳng góc với trục quay của khớp. Nếu ở khớp mà trục quay là trục ngang thì cơ nằm theo chiều dọc, sinh ra động tác gấp ở mặt gấp hoặc duỗi ở mặt duỗi. Nếu ở khớp mà trục quay là trục trước sau thì hai cơ đối vận phải nằm thẳng góc hay nằm chéo ở hai bên với trục đó, sinh ra động tác khép, vào đường giữa nếu ở phía trong trục hoặc động tác dãng ra nếu ở phía ngoài trục, do đó dẫn đến sự xoay vào trong hay xoay ra ngoài. Muốn gập khuỷu tay lại thì cơ nhị đầu phải có lai còn cơ tam đầu phải duỗi ra. Ngược lại khi muốn duỗi khuỷu tay ra thì cơ tam đầu phải co lại còn cơ nhị đầu phải duỗi ra. Trước tuổi dậy thì, cơ bắp của con trai và con gái khác nhau rất ít. Về sau dưới ảnh hưởng của các kích tố sinh dục nam, cơ của con trai phát triển hơn rõ rệt so với của con gái. Cần phải sử dụng liên tục tất cả các cơ nếu không các cơ sẽ bị teo đi. Muốn cơ phát triển phải tập luyện thường xuyên kết hợp với ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.
Thông tin từ viện thông tin thư viện y học Trung ương
Các bệnh mạn tính tăng nhanh ở Trung Quốc
Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh mạn tính, bao gồm các bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, ung thư và tiểu đường đã tăng nhanh trong mấy năm vừa qua. Theo thống kê của Bộ y tế Trung Quốc mỗi ngày có khoảng 13 nghìn người chết do các bệnh mạn tính. Ước tính hiện có 90 triệu người bệnh tăng huyết áp và 20 triệu người bị bệnh tiểu đường. Mỗi năm lại có thêm khoảng 1,6 triệu người bị ung thư và 1,5 triệu người bị đột quỵ. Dự tính vào năm 2000 chi phí cho việc điều trị các bệnh mạn tính thì sẽ lên tới 14,65 tỷ đô la Mỹ, cao gấp 3 lần năm 1994. Khoảng 30% tổng số chi phí y tế của Trung Quốc sẽ dành cho việc điều trị các bệnh mạn tính. Sự khẩn trương trong cuộc sống hiện đại, sự phát triển nhanh chóng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, ô nhiễm môi trường và những thay đổi trong lối sống là nguyên nhân chính của tình trạng này. (Theo Chinese Medicine tháng 1 năm 1999)
Vacxin làm giảm sự thèm muốn coccain trên động vật gây nghiện thực nghiệm
Theo một báo cáo được trình bày tại cuộc họp hàng năm của Hiệp hội hóa học Mỹ, một loại vacxin đã được thử nghiệm thành công trong việc chống lại cơn nghiện cocain trên động vật thí nghiệm. Ông giải thích rằng phân từ cocain quá nhỏ để kích thích đáp ứng miễn dịch. Nhóm nghiên cứu của ông đã giải quyết vấn đề này bằng cách gắn một dẫn chất của cocain với một protein lớn và kết quả là đã khích lệ miễn dịch sinh kháng thể. Qua một vài tuần lễ sử dụng kỹ thuật này, các kháng thể được tích lũy trong cơ thể. Các kháng thể tác dụng bằng cách tự gắn vào các phân tử cocain trong máu, ngăn cản chúng gắn vào các receptor trong não, phong bế tác dụng của chúng. Các tác giả cũng nghiên cứu các kháng thể đơn clon phân hủy cocain và loại bỏ tác dụng của các sản phẩm phân hủy của nó kỹ thuật này có thể được dùng trong cấp cứu quá liều. Hy vọng rằng các thử nghiệm lâm sàng mô hình kỹ thuật về liệu pháp được miễn dịch cai nghiện cocain sẽ được bắt đầu vào mùa đông sang năm. (Theo Reuters, ngày 25 tháng 8 năm 1999).
GS. Nguyễn Lân Dũng-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 53(865)1998