Những bài tập có kết hợp bấm huyệt

Kinh dương mình vị bắt đầu từ huyệt thừa khấp ở dưới mắt và kết thúc ở huyệt lệ đoài ở ngoài góc ngoài móng chân thứ 2. Chủ trị dùng để chữa các chứng bệnh: sốt cao, bệnh ở đầu, mặt mũi, răng, họng, não, dạ dầy, ruột… Ở đây trong phạm vi phù hợp với tầm với của tay người tập chúng ta khu trú bài tập với một số huyệt vùng mặt.
Liên huyệt: thừa khấp, tứ bạch, cự liên – nghênh hương.
Thừa khấp: vị trí, ở dưới mắt 0.7 tấc, từ con người thẳng xuống lấp ở chỗ gặp nhau của tờ dưới xương ổ mắt với đường dọc chính giữa mắt. Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số VII và các nhánh của dây thần kinh sọ não số II. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Tứ bạch: vị trí: ở dưới mắt, từ con ngươi thẳng xuống 1 tấc. Chỗ tiếp khớp của xương gò má với xương hàm trên. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh sọ não số VII. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Nghênh hương (thuộc kinh dương minh đại trường huyệt kết hợp với huyệt cự liệu), vị trí: ở phí ngoài lỗ mũi 0,5 tấc. Lấy ở điểm gặp nhau của đường ngang qua chân cánh mũi và rãnh mũi – mồm. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh sọ não số VI, da vùng huyệt chi phối bởi nhánh dưới hố mắt của dây thần kinh sọ não số V.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái trước một chiếc bàn làm việc. Đặc khuỷu tay lên mặt bàn với người bị liệt ½ người thì đặt khuỷu tay bên lành lên mật bàn, để ngón giữa lên huyệt thừa khấp làm thao tác day – rung nhẹ có thể day theo kiểu dọc hoặc ngang tùy. Thời gian thao tác 1 phút. Cảm giác dẫn truyền chạy vòng ra đuôi mắt và vắt lên cung lông mày. Tiếp tục rê ngón tay xuống huyệt tứ bạch cũng làm thao tác day rung (dọc hoặc ngang tùy) mạch tay hơn một chút, cảm giác dẫn truyền sâu vào trong và như dọc sau mắt vào não.
Xuống huyệt cự liêu – nghênh hương có thể dùng ngón trỏ và ngón giữa hoặc ngón giữa và ngón nhẫn đặt lên huyệt làm thao tác day rung nhẹ nhàng. Cảm giác dẫn vào xoang mặt rõ.
Tác dụng: co giật mặt, giật mí mắt, liệt mặt do tai biến mạch máu não và do Thần kinh số VII ngoại biên.
Huyệt đai nghênh: vị trí: ở trước xương hàm, trong chỗ lõm của xương; – khi cắn chặt răng cho cơ cắn nổi rõ sờ tìm bờ trước cơ cắn, lấy huyệt ở bờ trước cơ cắn và trên bờ dưới xương hàm dưới một ngang ngón tay, ngay trên rãnh động mạch mặt, thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh sọ não số VII và dây thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối là dây thần kinh sọ não số V.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái trước một bàn làm việc. Đặt khuỷu tay lên mặt bàn dùng ô mô cái với nguyên tắc tỳ chống vào huyệt làm thao tác day. Với người bị liệt ½ người thì đặt khuỷu tay bên lành lên mặt bàn dùng cạnh trong đầu ngón cái làm thao tác day theo hướng trước – sau. Thời gian thao tác 1 phút. Cảm giác dẫn truyền chạy vào hầu họng bên đối diện và chạy lên gò má. Tác dụng tích cực với: chẩy dài trong liệt; nói khó, nuốt khó trong liệt; liệt VII ngoại biên, máy giật mặt.
Huyệt giáp xa: vị trí: ở dưới hai 0,8 tấc, đầu xương quai hàm, gần chỗ lõm phía trước. Cắn chặt răng lấy huyệt ở chỗ cơ cắn nổi lên cao nhất. Khi không cắn, chỗ đó lõm xuống, ấn vào có cảm giác ê tức. Ở trước góc làm và ở trên bờ dưới xương hàm dưới một ngón tay. Thần kinh vận động cơ là nhánh thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái dùng đầu ngón giữa của tay bên nào cũng được đặt lên huyệt làm thao tác day – rung từ nhẹ đến nặng (huyệt rất đau), thời gian thao tác 1 phút. Cảm giác dẫn truyền – tiết nhiều nước bọt chạy lên gò má. Tác dụng tốt vì khô miệng (nhất là về đêm); chẩy dây trong liệt, nói khó nuốt khó trong liệt; bì vùng mặt; liệt VII ngoại biên; máy giật mặt.
Huyệt hạ quan: vị trí: ở chỗ lõm bờ dưới xương gò má ngậm chặt miệng thì lõm xuống, há miệng ra thì dầy lên. Thần kinh vận động cơ là dây Thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái dùng đầu ngón giữa (của tay bên nào cũng được) đặt lên huyệt làm thao tác day – muốn có cảm giác mạnh thì vừa day vừa từ từ há miệng. Thời gian thao tác 1 phút – cảm giác dẫn truyền xuống phía sau của họng. Tác dụng với: đau cứng hoặc trật khớp hàm, ù tai điếc tai cơ năng; khô miệng (nhất là về đêm) kết hợp với các huyệt khác điều trị liệt mặt, liệt VII ngoại biên; máy giật mặt – mắt.
Huyệt đầu duy: vị trí: ở góc trán trên, giữa khe khớp xương trán và xương đỉnh. Thần kinh vận động cơ là nhánh dây Thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi dây Thần kinh sọ não số V.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái dùng đầu ngón giữa (của tay bên nào cũng được) có thể tỳ khuỷu tay lên mặt bàn – làm thao tác day – rung. Thời gian thao tác 1 phút cảm giác dẫn truyền vào xoang mặt lan sang bên đối diện. Tác dụng: Đau đầu (vùng thái dương trán), chảy nước mắt mở mắt sau ốm dậy; nhìn 2 hình ảnh ở liệt; kết hợp với các huyệt khác phục hồi liệt mắt trong liệt; liệt VII ngoại biên; máy giật mắt.
Trần Ngọc Trường –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Vì sao trẻ bú mẹ hay khóc?

Các bà mẹ đang cho con bú, nhất là trong những tháng đầu sau đẻ. Khi thấy con khóc quá nhiều, thường nghĩ rằng mình không đủ sữa nên vội vàng cho trẻ ăn thêm sữa bò, nước cháo… nhưng cũng không làm cho trẻ hết khóc, đôi khi trẻ còn khóc nhiều hơn. Nếu tình trạng này kéo dài, có thể gây căng thẳng cho mẹ và các thành viên khác trong gia đình. Vậy lý do nào làm trẻ khóc?
Trước khi tìm hiểu nguyên nhân, chúng ta cần biết một và đặc điểm về hệ thần kinh và các giác quan của trẻ trong thời kỳ sơ sinh.
Đặc điểm sinh lý hệ thần kinh: trẻ sơ sinh luôn luôn trong tình trạng ức chế, trẻ ngủ suốt ngày, nhưng quá trình hưng phấn dễ lan tỏa do hoạt động mạnh của trung tâm dưới vỏ não và tủy sống cho nên khi thức, trẻ sơ sinh hầu như lúc nào cũng ở trạng thái hoạt động. Một số phản xạ tự nhiên như phản xạ bú; phản xạ nắm tay, mắt chớp… và các giác quan của trẻ cũng phát triển khá đầy đủ. Biểu hiện sự không hài lòng của trẻ bằng tiếng khóc, tuyến nước mắt chưa hoạt động nên trẻ khóc không có nước mắt. Trẻ giật mình bởi những tiếng động mạnh hoặc sớm nghe được tiếng hát ru. Vị giác phát triển rất tốt, trẻ có thể nhận biết được vị ngọt của sữa mẹ cho nên khi thay đổi sữa một số trẻ không chịu ăn, hoặc khi uống chất đắng, chua thì nhăn mặt. Trẻ đã biết phản ứng với những cảm giác đau, nóng lạnh. Khứu giác cũng đã hoạt động, khi ngửi thấy mùi khó chịu thì nhíu lông mày, nằm không yên…
Lý do làm trẻ khóc
Môi trường thuận lợi: ví dụ sau mỗi lần ỉa, đái bà mẹ chưa kịp thay tã lót làm trẻ khó chịu thường khóc. Trẻ bú mẹ thường ỉa đái nhiều hơn trẻ nuôi nhân tạo.
Mệt mỏi sau tiếng khóc chào đời trẻ cũng muốn được nghỉ ngơi yên tĩnh như khi còn nằm trong bụng mẹ nhất là trong tháng đầu sau đẻ nhưng bà con họ hàng đến thăm hỏi quá nhiều, nói chuyện ồn ào, sờ mó thay nhau bế llafm trẻ mệt mỏi khóc nhiều.
Ốm đau: khi trẻ bị bệnh thường quấy khóc bỏ bú, nhưng một số trẻ bị đau vì gãy xương do sang chấn sản khoa vì vậy khi bế trẻ ở tư thé chạm vào chỗ đau, trẻ sẽ khóc.
Đói. Trẻ đói vì bú không đủ sữa, có thể trẻ ngậm bắt vú kém hoặc bà mẹ cho trẻ bú chưa đủ no. Và nhất là khoảng cách giữa các bữa bú qua dài nên trẻ hay khóc đòi bú. Trẻ đói do lớn quá nhanh. Trẻ tỏ ra rất đói, thường xuyên đòi bú thường gặp ở trẻ 2 tuần, 6 tuần và 3 tháng tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra vào những thời điểm khác nhau. Nếu trẻ bú mẹ thường xuyên trong vài ngày thì sự tạo sữa sẽ tăng lên thỏa mãn nhu cầu của trẻ sẽ hết khóc.
Nhu cầu đòi bế. Trẻ khóc vì muốn được bế nhiều hơn. Những trẻ được mẹ bế theo mình thì ít khóc hơn những trẻ ít được bế.
Trẻ đau bụng: Chúng ta nhận thấy trẻ khóc liên tục vào những thời gian nhất định trong ngày thường là buổi tối. Trẻ nằm co chân, nhìn thấy nhu động ruột, trẻ có thể đau bụng không rõ nguyên nhân, nhưng trẻ vẫn phát triển tốt và khóc ít dần khi trẻ được 2 – 3 tháng tuổi, nhân dần ta thường gọi là “khóc dạ đề”.
Thức ăn của bè mẹ. Đôi khi bà mẹ ăn một loại thức ăn nào đó làm trẻ khó chịu. Trẻ có thể bị dị ứng với protein trong một số thức ăn của bà mẹ như sữa bò, trứng, cua, cá…
Bà mẹ dùng thuốc. Một số vị thuốc qua sữa mẹ làm thay đổi mùi, vị của sữa nên trẻ khóc không chịu bú. Một số công trình nghiên cứu đã chứng tỏ con của những bà mẹ hút thuốc lá thì hay khóc hơn con của những bà mẹ không hút thuốc. Những người trong gia đình hút thuốc cũng ảnh hưởng đến trẻ, làm trẻ khóc.
Mẹ quá nhiều sữa. Do trẻ mút vú thường xuyên và quá lâu, kích thích vú làm cho sự tạo sữa tăng lên. Khi sữa quá nhiều bà mẹ thường cho trẻ bú cả hai vú mà không cho trẻ bú được sữa đầu của hai bên vú mà không bú sữa cuối lại rất tốt. Vì vậy trẻ tăng cân chậm hoặc vẫn phát triển tốt nhưng hay khóc đòi bú.
Làm thế nào để trẻ đỡ khóc?
Khi trẻ quấy khóc nhiều, cần thăm khám để tìm nguyên nhân. Nếu nguyên nhân do thức ăn của mẹ thì nên ngừng thức ăn đó trong một tuần, trẻ sẽ dần dần hết khóc, nhưng nếu trẻ vẫn tiếp tục khóc thì thức ăn này không phải là nguyên nhân gây khóc, nhưng nếu trẻ vẫn tiếp tục khóc thì thức ăn này không phải là nguyên nhân gây khóc.
Trường hợp trẻ khóc dạ dày đề (khóc do cơn đau bụng về đêm) thì không nên dùng bất cứ loại thuốc nào để chữa đau bụng mà chỉ cần bế trẻ rồi xoa lưng và xoa bóp nhẹ nhàng bụng trẻ bằng các cách sau:
Cách thứ nhất: Bế trẻ dọc theo cánh tay của mình, dùng tay kia áp vào lưng trẻ và xoa nhẹ nhàng trên lưng từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.
Cách thứ hai: Bà mẹ ngồi xuống và bế trẻ vào lòng, lưng của trẻ quay vào ngực của mình, hai tay ôm vòng quanh bụng và xoa bóp nhẹ nhàng vào bụng.
Cách thứ ba: Bế trẻ đứng thẳng áp vào ngực, đầu của trẻ ở dưới cằm của mình và thì thầm ru bé.
Tóm lại, khi thấy trẻ khóc nhiều, chúng ta hãy cố gắng theo dõi sát để tìm nguyên nhân khắc phục, đặc biệt các thành viên, an ủi, giúp đỡ bà mẹ khi trẻ khóc.
PGS. Đào Ngọc Diễn –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Cho trẻ ăn bổ sung như thế nào?

Ăn bổ sung là quá trình trẻ từ từ làm quen với thức ăn của gia đình và ngày càng bú mẹ ít hơn. So với người đã trưởng thành, nhu cầu về dinh dưỡng của trẻ em rất lớn. Trẻ càng nhỏ nhu cầu càng cao. Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và cũng là thức ăn tốt nhất đối với trẻ nhưng không thể nuôi trẻ bằng sữa mẹ đơn thuần từ lúc đẻ đến khi cai sữa, vì sữa mẹ không đủ thỏa mãn nhu cầu cơ thể trẻ ngày càng lớn lên. Vì vậy từ tháng thứ 5 trở đi phải cho trẻ ăn thêm thức ăn khác ngoài sữa mẹ để trẻ phát triển tốt và phòng ngừa bệnh tật. Thời kỳ bắt đầu bổ sung “ăn sam, ăn dặm, ăn thêm” cho đến khi cai sữa là thời kỳ đe dọa suy dinh dưỡng tốt nhất đối với trẻ em. Cho trẻ ăn quá sớm hoặc quá muộn, cách cho ăn không đúng về số lượng, và chất lượng, thiếu vệ sinh dẫn đến suy dinh dưỡng.
Thành phần bổ sung
Nhóm thức ăn cơ bản: đó là nhóm thức ăn cung cấp nhiệt lượng chủ yếu trong khẩu phần ăn. Ở nước ta thường dùng gạo, ngô được chế biến dưới dạng bột để sử dụng cho trẻ.
Nhóm thức ăn giàu protein:
Thức ăn có nguồn gốc động vật: là các loại thức ăn dinh dưỡng cao như: trứng, sữa, thịt, cá, tôm, cua, lươn, nhộng, phũ tạng “gan”. Các loại thịt: lợn, bò, gà đều cho trẻ ăn được, không nhất thiết phải ăn toàn thịt nạc, mà nên sử dụng cả nạt lẫn mỡ.
Thức ăn là nguồn gốc thực vật: đậu đỗ các loại “đậu đen, đậu xanh, đậu nành…” trong đó đậu nành “đậu tương” có hàm lượng protein là lipit cao nhất. Đây là loại thức ăn khi ăn hỗn hợp với ngũ cốc sẽ trở thành những thứ ăn giàu dinh dưỡng như thức ăn động vật thì thường rẽ tiền hơn.
Nhóm thức ăn giàu năng lượng: gồm dầu, bơ, mỡ, đường. Dầu và mỡ bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ. Chúng còn làm cho thức ăn mềm hơn và dễ nuốt. Ngoài mỡ động vật cho trẻ em giàu lạc, giàu vừng, giàu đậu nành… vì dầu có tỉ lệ các axit béo không no cao hơn mỡ nên dễ hấp thu. Cho trẻ ăn dầu mỡ ngoài việc tăng năng lượng của khẩu phần ăn còn giúp trẻ hấp thu dễ dàng các loại vitamin tan trong giàu mỡ như: vitamin A, E, D, K…
Nhóm thức ăn giàu vitamin, chất khoáng và chất sơ: rau xanh và quả chín là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng vô cùng phong phú. Đây là loại thức ăn rất tốt đối với trẻ. Các loại rau có lá màu xanh thẩm như: rau ngót, rau muống, rau dền, mồng tơi, rau cải… đều chứa nhiều vitamin C và các vi chất như beta – caroten “tiền vitamin A”, và sắt giúp trẻ phòng chống khô mép và thiếu máu.
Các loại quả chín: đu đủ, xoài, chuối, cam, quýt, hồng xiêm… cũng chứa nhiều vi chất khi ăn lại không bị hao hụt do không phải do nấu nướng.
Cách cho trẻ ăn bổ sung
Về nguyên tắc: Thường nên cho trẻ ăn từ lỏng đến đặt, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới; số lượng thức ăn và ăn hợp với khẩu vị của trẻ; sử dụng các thức ăn hỗn hợp, giàu dinh dưỡng và sẵn có tại địa phương để tô màu bát bột. Ví dụ: cho thêm trứng để có màu vàng, thêm rau xanh để có màu xanh, thêm thịt, tôm, cua để có màu nâu. Trong một ngày không nên cho trẻ ăn một món giống nhau, khi chế biến đảm bảo thức ăn mềm dễ nhai và dễ nuốt; tăng đậm độ năng lượng của thức ăn bổ sung: có thể cho thêm dầu mỡ, hoặc vừng, lạc “mè, đậu phộng” làm cho bát bột vừa thơm, vừa béo, mềm, trẻ dễ nuốt lại cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn hoặc bổ sung bột men tiêu hóa; tất cả dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn; cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt; cho trẻ ăn nhiều hơn và sau khi bị ốm; cho trẻ ăn uống nhiều chất lỏng hơn đặc biệt là khi bị ỉa chảy và sốt cao; không nên cho trẻ ăn mì chín vì không có chất dinh dưỡng lại làm trẻ quen miệng; không cho trẻ ăn bánh kẹo, uống nước ngọt trước bữa ăn vì dễ làm cho trẻ chán ăn, bỏ bữa hoặc ăn ít đi.
Số bữa ăn cụ thể trong ngày:
5 – 6 tháng: bú mẹ là chín + 1 bữa bột loãng + nước quả, sau tăng dần lên 2 bữa mỗi ngày và nấu đặt dần.
7 – 12 tháng: bú mẹ là chính + 3 – 4 bữa bột đặc mỗi ngày + hoa quả nghiền.
13 – 18 tháng: bú mẹ + 4 – 5 bữa cháo + hoa quả.
19 – 24 tháng: bú mẹ + 4 – 5 bữa cháo đặc + hoa quả, tập ăn cơm nát.
25 – 36 tháng: mỗi ngày ăn 4 – 5 bữa cơm nát và hoa quả.
Từ 36 tháng trở đi: cho trẻ ăn cơm như người lớn nhưng được ưu tiên thức ăn. Ở nông thôn ngoài ba bữa chính cần cho trẻ ăn các bữa phụ bằng các thực phẩm có sẵn trong gia đình “khoai, ngô, bánh”. Ở thành phố hoặc các gia đình có điều kiện cho ăn thêm 2 bữa phụ “cháo, phở, súp, sữa”.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998