Các bài tập có kết hợp kích thích huyệt

Huyệt đại trường du thuộc kinh thái dương bàng quang. Vị trí L4 – L5 đo ngang ra 1.5 thốn. Chủ trị đau lưng, đau dây thần kinh hông, đầy bụng, tiêu chảy, táo bón. Về phương diện giải phẫu thần kinh, mọi tác động lên đại trường du đều có liên quan đến vùng cảm giác ngoài da của cơ thể, kích thích các phản xạ của đời sống liên lạc, các phản xạ đời sống thực vật… Và quan trọng hơn hết việc tập thể dục có kết hợp kích thích huyệt đại trường du giúp cơ thể lấy lại sự cân bằng sinh lý. Hay nói đúng hơn những bài tập này giúp cơ thể có một sự tự điều chỉnh theo hướng tích cực.
Bài 1: đứng rướn gót: người tập đứng nghiêm chụm hai gót chân. Hai tay chống nạnh ngón cái đặt vào huyệt đại trường du. Làm động tác vươn thở, hít sâu, kiễng chân dướn cao người hai ngón cái thúc mạnh vào huyệt đai trường du. Hết một nhịp hít, thở ra, hạ gót, buông lỏng toàn thân, từ từ thả bấm huyệt. Làm từ 10 – 15 lần/ 1 lần tập sau tăng dần lên. Tác dụng tốt với các bệnh đau lưng, đau thần kinh hông, tuần hoàn.
Bài 2: xoay người: người tập đứng nghiêm chân mở bằng vai. Hai tay chống nạnh ngón cái đặt vào huyệt đại trường du. Làm động tác xoay người: hít sâu, hai chân đứng nguyên hơi trụ, nửa người trên xoay hết tầm vận động ngón cái cùng bên xoay; thúc mạnh vào huyệt đại trường du. Xoay người lại thở ra, ngón cái từ từ thả bấm huyệt. Tiếp tục tập bên đối diện. Trong lúc tập có một luồng kích thích rất rõ trong vùng bụng. Tác dụng tốt với các bệnh về đường tiêu hóa. Làm từ 10 – 15 lần/ 1 lần tập, lần sau tăng dần lên.
Bài 3: Nghiêng người: Người tập đứng nghiêm 2 chân mở bằng vai. Hai tay chống mạnh ngón cái đặt vào huyệt đại trường du. Nghiêng người tối đa, chân cùng bên làm trụ, hít sâu, ngón cái cùng bên thúc mạnh vào huyệt đại trường du có một luồng kích thích chạy dọc chân sau xuống huyệt côn lôn – gót chân. Đứng nghiêm trở lại thở ra ngón cái từ từ thả bấm huyệt. Lặp lại động tác bên đối diện cảm giác vẫn như cũ kèm theo cảm giác thư giãn từ gáy xuống đến huyệt đại trường du bên đối diện. Tác dụng tốt với bệnh đau dây thần kinh hông, đau lưng. Làm từ 10 – 15 lần/ 1 lần tập sau tăng dần lên.
Bài 4: Ưỡn: Người tập đứng nghiêm, 2 chân mở bằng vai. Hai tay chống nạnh ngón cái đặt vào huyệt đại trường du. Kiễng chân 2 gót chụm lại hít sâu, ưỡn người ra sau, hai ngón cái thục mạnh vào huyệt đại trường du. Hạ – mở gót, thở ra cúi người về phía trước, hai ngón cái từ từ thả bấm huyệt. Đến lần tập 2 bắt đầu có 1 luồng kích thích chạy dọc đại trường du lên gáy và ngược lại rồi đại trường du xuống gót cảm giác tăng dần lên theo số lần tập và dần tới một ngưỡng nhất định. Tác dụng tốt cho các bệnh về cột sống, hệ thần kinh thực vật, và tuần hoàn não, tiêu hóa và những người yếu sinh lý. Tập 10 – 15 lần/ 1 lần tập sau tăng dần lên.
Chữa chốc đầu
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi hay bị chốc đầu, bệnh thường mắc vào mùa hè, mùa thu và dây dưa lâu khỏi.
Thuốc đắp: Lá đậu ván, lá mơ lông, lá rau sam. Mỗi thứ 4 gam.
Cách làm: Tất cả rửa sạch, cho thêm ít muỗi giã nhừ. Lấy kéo cắt hết tóc ở những nơi chốc đầu sau đó phết thuốc lên chỗ đau khoảng 40 phút. Tiếp lấy 5 củ hành giã nhỏ, cho một bát nước, đun sôi, để nguội rồi rửa chỗ đau. Rửa xong thấm ráo nước và bôi thuốc.
Bài thuốc bôi: nghệ vàng 80 gam, mật lợn 2 cái (lấy nước mật).
Cách dùng: Giã nghệ cho nhừ, hòa với nước mật lợn lọc qua miếng vải mỏng, cắt bỏ hết bã nghệ và chưng lên cho đặc. Lấy tăm bông chấm vào chỗ đau mỗi ngày làm một lần. Với cách làm trên thường từ 3 đến 5 lần là khỏi.
Ngọc Hưng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Chị em có thai cần lưu ý!

Phụ nữ trong thời kỳ mang thai thường có thay đổi về sức khỏe so với lúc bình thường. Do vậy, ngoài những lần khám thai theo định kỳ, nếu thấy có những triệu chứng không bình thường sau đây thì cần phải kịp thời đến ngay bệnh viện để khám và điều trị:
Nôn nhiều: Nôn nhẹ là biểu hiện thường gặp ở người có thai vào thời kỳ đầu, qua vài tuần có thể hết, không cần bận tâm. Nhưng nếu nôn nhiều, ăn thứ gì vào là nôn ngay ra thứ ấy, thậm chí uống nước vào cũng bị nôn, có thể dẫn tới mất nước và rối loạn chất điện giải, nguy hiểm đến tính mạng của cả mẹ lẫn thai nhi cần phải đến bệnh viện sớm để khám và điều trị.
Đau bụng dưới: Đau bụng dưới từng cơn, có cảm giác đau đẻ, kèm theo mỏi lưng, nhất là có hiện tượng chảy máu âm đạo, là triệu chứng dạo sảy thai hoặc đẻ non, hoặc rau tiền đạo.
Phù nặng: thời kỳ giữa và cuối của kỳ mang thai (tháng 7, 8, 9) nếu có phù nhẹ ở chân và không có biểu hiện khó chịu gì khác, đó là hiện tượng bình thường, không cần bận tâm. Nhưng nếu phù nề nặng kèm theo hiện tượng huyết áp tăng cao v.v… là triệu chứng của nhiễm độc thai nghén.
Cân nặng tăng quá nhanh:
Nếu mỗi tuần tăng cân vượt quá 400 gam, có khả năng là thai đôi hoặc nước ối quá nhiều (đa ối) cũng có thể là nhiễm độc thai nghén hoặc chửa trứng. Đối với nhiễm độc thai nghén và chửa trứng là rất nguy hiểm không được xem thường cần đi khám ngay.
Cảm cúm, mắc sởi: Trong 4 tháng đầu của thời kỳ mang thai, nếu bị bệnh cúm sởi thì rất nguy hại cho thai nhi, có thể chiếm 30% đến 50% thai nhi bị quái thai. Vì thế, nếu bị bệnh này, phải đến khoa phụ sản khám toàn diện để được tư vấn nên giữ thai hoặc phải nạo bỏ thai.
Tiểu tiện khác thường: Nếu tiểu tiện có cảm giác buốt hoặc có đau lưng, toàn thân gai lạnh, hoặc sốt, có khả năng bị viêm nhiễm ở hệ thống tiết niệu.
Sợ hãi, khó thở: Cuối kỳ mang thai, nếu làm việc nặng thấy cảm giác sợ hãi, thở ngắn, hụt hơi là hiện tượng bình thường, nhưng nếu hoạt động nhẹ hoặc ở trạng thái yên tĩnh cũng bị hoảng hốt, khso thở hoặc tim đập mạnh, không thể nằm được, thì phải nghĩ đến khả năng bị bệnh tim, cần phải đi khám và điều trị sớm.
Sốt, hạch sưng to: Khi thấy có triệu chứng này thì có thể bị mắc một bệnh nào đó. Cần phải đi kiểm tra sức khỏe.
Mệt mỏi, vàng da và ăn kém: Có thể là biểu hiện của bệnh viêm gan vi rút cần phải đi khám và điều trị.
Mộng báo trước: Phụ nữ mang thai mấy tháng đầu thường hay mơ thấy các loại sinh vật, động vật nhỏ đáng yêu. Các chuyên gia cho rằng giấc mộng của phụ nữ mang thai vẫn là một loại quà tặng của thai nhi khi sinh trưởng, phát dục trong bụng mẹ.
Ra nước âm đạo 3 tháng cuối: Cần phải chú ý xem có phải làm chảy nước ối hay không, cần cảnh giác, vỡ ối sớm gây đẻ non.
Ra máu âm đạo: Trong quá trình mang thai nếu thấy ra máu âm đạo thì đó là hiện tượng khác thường, không thể xem nhẹ. Nếu thấy cso đau bụng dưới trong 3 tháng đầu phải nghĩ đến khả năng động sẩy thai, chửa dạ con. Nếu 3 tháng cuối có thể rau tiền đạo hoặc rau bong non, cần phải đến viện sớm.
Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai có thể thấy những triệu chứng co rút (chuột rút), dãn tĩnh mạch v.v… các triệu chứng đó đều thuộc về hiện tượng sinh lý, không nên quá lo mà dùng thuốc lung tung ảnh hưởng đến thai.
Bác sĩ Ngô Quang Thái – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Những tiến bộ về phát triển con người

Theo báo cáo về phát triển con người năm 1998 của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP, 9 – 9 – 1998) trong vòng 30 năm qua, ở mọi khu vực trên thế giới, nhìn chung đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong lĩnh vực phát triển con người. Trong số 174 nước thành viên, Canada vẫn dẫn đầu về lĩnh vực phát triển con người toàn diện trong 5 năm liền – một thành tựu mà không một quốc gia nào sánh nổi. Canada đứng đầu bảng về y tế, giáo dục nói chung và mức sống của người dân bình thường: Pháp đứng hàng thứ hai; Na Uy đứng hàng thứ ba.
Các nước: Oman, Ả Rập Xê út, Việt Nam và Yemen đã đạt được tiến bộ nhanh nhất về nâng cao tuổi thọ của người dân, trong khi đó Benin, Cộng hòa Trung Phi và Mali lại đạt được tiến bộ nhanh nhất về xóa nạn mù chữ cho người lớn. Hàn Quốc và Ả rập thống nhất đứng đầu các nước đang phát triển về giảm tỷ lệ chết ở trẻ em.
Trong ba thập kỷ qua, mặc dù các nước đang phát triển nói chung đã đạt được nhiều tiến bộ hơn trong việc nâng cao mức độ phát triển con người so với những gì mà các nước công nghiệp hóa đạt được trong thế kỷ qua, song với chừng 100 nước đang phát triển hoặc trong giai đoạn quá độ về kinh tế và chính trị – đã trải qua thời kỳ suy thoái về kinh tế, trong đó 70 – 80 nước hiện nay có mức thu nhập thấp hơn so với 10 – 30 năm về trước. Ở các nước đang phát triển, có tới 1,3 tỷ người có mức thu nhập dưới 1 USD/ ngày. Còn ở các nước đang trong giai đoạn quá độ về kinh tế, có tới 20 triệu người sống dưới mức nghèo về thu nhập theo đầu người chưa hẳn đã là yếu tố đảm bảo cho sự tiến bộ của con người. Brunei chẳng hạn, là nước có GDP cao nhất thế giới (31.165 USD/ người) song chỉ đứng ở vị trí thứ 35 trong bảng xếp hạng về chỉ số phát triển con người; trong khi Canada chỉ đứng hàng thứ 12 về thu nhập theo đầu người. Cũng thế, 98 trong số 174 nước có mức xếp hạng chỉ số phát triển con người cao hơn mức GDP/ đầu người. Điều này có nghĩa là những nước này đã thành công trong việc “chuyển hóa sự thịnh vượng về kinh tế thành năng lực con người”. Những nước đã đạt được thành tựu có ấn tượng đặc biệt về lĩnh vực này là Costa Rica, Tanzania, Zambia và Việt Nam.
Tình trạng suy thoái kinh tế, xung đột vũ trang, HIV/AIDS đang là những yếu tố cản trở sự tiến bộ về phát triển con người, một số nước bị tụt lùi, số người nghèo đang ngày càng tăng kể cả ở những nước giàu nhất thế giới.
Ngày nay để đánh giá sự phát triển xã hội cùng với việc xem xét chỉ số phát triển con người (HDI) thì chỉ số phát triển về giới (GDI) – một chỉ số phản ánh sự mất bình đẳng về thành tựu phát triển con người giữa nam và nữ và thước đo về nâng cao địa vị giới GEM (Gender Empowement Measure) cũng được sử dụng làm căn cứ xếp hạng mức độ phát triển.
Theo báo cáo lần này, ở tất cả các nước, phụ nữ có mức phát triển con người kém hơn nam giới. Canada cũng dẫn đầu về chỉ số GDI, tiếp đến là Na Uy rồi Thụy Điển, Hoa Kỳ đứng ở vị trí thứ sau. Xét theo chỉ số GEM – một chỉ số phản ánh cơ hội phụ nữ được tham gia các hoạt động chính trị và kinh tế đất nước, Thụy Điển đứng hàng đầu, Na Uy đứng thứ hai và Đan Mạch ở vị trí thứ ba. Hoa Kỳ ở vị trí thứ 11. Nhìn chung trong phạm vi toàn cầu, đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng năng lực cho phụ nữ, song vẫn còn chậm trễ nghiêm trọng trong việc tạo cơ hội thực sự cho phụ nữ.
Bảo Châu –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998