Người dân Mêhicô rất sành điệu trong thường thức văn hóa nghệ thuật

Đại diện lâm thời Đại sứ quán Việt Nam tại Mêhicô nhận xét: “Đây là chuyến đi mở đường của nghệ thuật Việt Nam tại Mêhicô và đã có được những thành công, đoàn thể đã thể hiện được phong cách nhân gian, thuần nhất bản sắc Việt Nam, đã để lại nhiều dư âm và ấn tượng với bè bạn ở bên kia bán cầu”. Ngay sau khi đoàn trở về, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Lê Văn Ngọ, giám đốc đoàn Múa rối nước Thăng Long.
Lần đầu tiên và cũng là đoàn nghệ thuật mở đầu của Việt Nam sang biểu diễn tại Mêhicô, ông có những cảm nhận như thế nào về đất nước Mỹ la tinh này?
Mêhicô là đất nước có nhiều dân tộc sinh sống, do vậy có rất nhiều phong cách văn hóa và một vị trí quan trọng ở khu vực Mỹ la tinh. Người dân Mêhicô rất sành điệu trong thường thức văn hóa nghệ thuật và nhạy bén với các vấn đề chính trị. Thời gian qua, việc giao lưu văn hóa giữa hai nước còn hạn chế, do đó rất đông khán giả đến với các chương trình của đoàn, bởi với họ múa rối nước là sự mới lạ.
Ông có thể cho biết đôi nét về festival Mêhicô lần này?
INTENACIONA de TEATRO de TITERCS Mêhicô 97 là festival quốc tế đã được tổ chức gần mười lần với thời gian hai năm/lần. Tham gia cuộc liên hoan lần này có hơn 40 đoàn nghệ thuật của Mêhicô và quốc tế với đầy đủ các loại hình nghệ thuật truyền thống của các quốc gia châu lục. Có thể nói đây là một festival nghệ thuật đồ sộ cả về quy mô tổ chức cũng như số lượng các nước tham gia và nó đã trở thành một festival có uy tín trong khu vực châu Mỹ và thế giới.
Như các phương tiện thông tin đã giới thiệu, đoàn nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam đã để lại ấn tượng với đông đảo bè bạn quốc tế? Ngay sau khi tới Mêhicô, chương trình của đoàn đã gây được sự chú ý của đông đảo mọi người và được đánh giá cao. Hãng truyền hình AZTECA của Mêhicô đã chọn Thủy đình của đoàn làm hình ảnh nền giới thiệu chương trình festival, và hãng truyền hình liên quốc gia AERVBIC đã thực hiện một chương trình của đoàn với tiêu đề “Chào Việt Nam – đất nước xuất khẩu thứ ba về gạo trên thế giới”. Tiếp đó, đoàn đã biểu diễn liên tục suốt gần một tháng từ 24/7 đến 4/8 tại Cung văn hóa Mêhicô city và các bang Puebla, Tlaxcala, Queretảo, Oaxaka phục vụ hàng ngàn lượt người xem.
Như vậy, phải chăng phong cách nhân gian, mang đậm nét Việt Nam đã thực sự tạo nên sức hấp dẫn đối với bạn bè quốc tế, thưa ông?
Điều đó cũng đúng một phần nào, thứ nhất đó là sự độc đáo của loại hình thứ hai có lẽ đây là đoàn nghệ thuật đầu tiên của Việt Nam tới biểu diễn tại Mêhicô, đoàn đã phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tổ chức chương trình “Đêm văn hóa Việt Nam”, và đã gây được tiếng vang. Các phương tiện thông tin đại chúng của Mêhicô đánh giá cao, coi đó như sự điểm xuyết đầy ấn tượng của văn hóa Việt Nam tại Mêhcô. Đoàn Múa rối nước Thăng Long cũng là đoàn duy nhất được phu nhân tổng thống Mêhicô gửi tặng lẵng hoa chúc mừng. Với sự nhiệt thành của khán giả Mêhicô, theo yêu cầu của phía bạn, đoàn Múa rối nước Thăng Long đã ở lại và kéo dài chương trình so với dự kiến ban đầu 6 ngày.
Xin cảm ơn ông.
Nguyễn Minh Ngọc – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 40 (748) – Năm thứ 36 – 1997

Thế nào là “thuốc nội”

Trong các số báo gần đây của Sức khỏe & Đời sống, tạp chí Thuốc và Sức khỏe có một bài cũng đề cập đến vấn đề “Thuốc nội và thuốc ngoại”, phê phán hiện tượng thích dùng thuốc ngoại do thị hiếu của người dùng, thích kinh doanh loại này do dễ bán, thu lợi cao, nêu lên sự cần thiết ích lợi và tính đúng đắn của việc dùng thuốc nội.
Nhưng, những thuốc nào được xếp vào “thuốc nội” thì chưa có sự trao đổi, thống nhất quan niệm, dẫn đến tình trạng có thực đã xảy ra trong một báo cáo khoa học về dược, sau khi tác giả trình bày: Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ thuốc nội chỉ chiếm khoảng 18% – 20% tổng giá trị thuốc tiêu dùng thì một ủy viên của Hội đồng nghiệm thu chất vấn theo một báo cáo khoa học khác đã trình bày hôm trước thì thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng 30% – 35% nhu cầu thuốc trên thị trường.
Và hai tỷ lệ trên đều được chứng minh bằng những số liệu cụ thể đáng tin cậy. Và ai đúng, ai sai?
Sự mâu thuẫn trên là do quan niệm khác nhau về “thuốc nội”
Theo cách hiểu thông thường nhất, thì hàng nội là hàng được sản xuất trong nước, mà toàn bộ hoặc một phần lớn các yếu tố tạo nên giá thành của nó là từ trong nước. Đó là loại hàng hóa mà nền kinh tế không phải mất một khoản ngoại tệ nào để nhập.
Giữa khái niệm “hàng nội” và “háng sản xuất trong nước” có sự chênh lệch nhất định. Hàng sản xuất trong nước, trên nhãn có ghi Sản xuất tại Việt Nam (Made in Việt Nam) không phải dán tem nhập, do nhiều nguồn làm ra: các doanh nghiệp trong nước; quốc doanh, tư nhân; các doanh nghiệp liên doanh; các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đang sản xuất ở Việt Nam. Với các nhãn hiệu, trong nước (tự đặt ra); nước ngoài do mua thương hiệu hoặc được các công ty nước ngoài cho sử dụng thương hiệu để thừa hưởng uy tín sẵn có của sản phẩm cùng loại trên thị trường. Các loại hình doanh nghiệp này mang pháp nhân của nền kinh tế Việt Nam, dù thuộc loại hình nào để hoạt động trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam, do đó hàng hóa làm ra đều được coi là hàng hóa trong sản xuất. Loại hàng này chỉ đạt được 2 yêu cầu cơ bản:
Tạo được công ăn việc làm cho người lao động Việt Nam và doanh nghiệp thu được một số lợi nhuận.
Ngân sách Nhà nước thu được nhiều loại thuế.
Còn yêu cầu: Nền kinh tế không mất ngoại tệ, dễ nhập thì chưa đạt. Do đó gọi là thuốc nội thì phải đạt cả 3 yêu cầu.
Quan niệm như trên thì “thuốc nội” chỉ chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng số thuốc tiêu dùng, vì nền công nghiệp nguyên liệu làm thuốc, công nghiệp phụ liệu, công nghiệp bao bì được của ta còn yếu, hầu hết những thứ trên đều phải nhập, phụ thuộc vào việc cung ứng của nước ngoài về chất lượng, giá cả… dù ta vẫn tự hào về công nghiệp bào chế thuốc có truyền thống, đã sản xuất thuốc trên 50 năm, nhưng như nhiều đồng nghiệp đã nói, thực chất đó là nền công nghiệp “gia công”.
Trong chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam, có đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010: thuốc nội đạt tỷ lệ 40% giá trị thuốc tiêu dùng trong nước. Vậy để đánh giá chính xác việc ngành dược Việt Nam phấn đấu đạt chỉ tiêu đó hay không thì điều cần làm sớm, làm ngay là xác định tiêu chí thế nào là thuốc nội. Theo ý chúng tôi, một trong những tiêu chí cơ bản của thuốc nội là tỷ lệ % thích hợp giá trị nguyên, phụ liệu nhập (GTNPLN) chiếm trong giá thành của sản phẩm hay chính xác hơn là giá trị nguyên, phụ liệu nhập trên toàn bộ giá trị nguyên, phụ liệu, loại bỏ các yếu tố khác trong giá thành sản phẩm như chi phí về lương và phụ cấp của người lao động trực tiếp và gián tiếp, chi phí và khấu hao, chi phí về lãi vay ngân hàng.
Dưới tỉ lệ đó thì coi là “thuốc nội” còn trên tỷ lệ đó thì coi là thuốc sản xuất trong nước.
Tỷ lệ này có thể quy định theo từng giai đoạn, tùy theo sự phát triển của các ngành công nghiệp: nguyên liệu làm thuốc, phụ liệu và bao bì được, để động viên, khuyến khích ngành sản xuất thuốc của Việt Nam sử dụng nhiều tài nguyên sẵn có trong nước để làm thuốc (Ví dụ: Tỷ suất thuế áp dụng với loại này thấp hơn) nhằm khuyến khích phát triển sản xuất… Giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý vĩ mô và vi mô của ngành dược đề ra chủ trương, chính sách và các biện pháp cần thiết để tạo thể chủ động cho các ngành công nghiệp dược Việt Nam trong việc sản xuất thuốc, góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, tiết kiệm ngoại tệ cho Nhà nước.
Cách đây chừng 20 năm, đã có một đồng nghiệp viết bài đăng trên một tờ báo lớn hàng ngày là: “ngành dược Việt Nam không cần phải sản xuất thuốc gì cả chỉ cần làm và xuất bán cho mỗi người dân Liên Xô 2 hộp dầu cao xoa là đủ vì với trên 200 triệu dân Liên Xô đủ để cho ngành dược Việt Nam đạt giá trị tổng sản lượng khá lớn”, nhưng đồng nghiệp đó quên mất rằng: nguyên phụ liệu làm dầu cao đó ta hoàn toàn phải bỏ những đồng “đô la” quý báu để mua và khi bán chỉ thu về được những đồng “rúp”, tuy mang tiếng là thuốc sản xuất trong nước để làm xuất khẩu, nhưng đứng về mặt hiệu quả kinh tế Nhà nước ta thua thiệt… Nhắc lại câu chuyện “vui” trên để thấy rõ sự cần thiết phải có tiêu chí của “thuốc nội” nhằm tránh ngộ nhận là cần thiết.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Cách tự bảo vệ mắt khi đi du lịch

Nhiều người bị những bệnh về mắt thường do mặt trời, cát, những cuộc dạo chơi trên biển, bể bơi… gây ra.
Những hạt cát nhỏ…
Tất cả những hạt cát nhỏ văng vào mắt đều có nguy cơ gây ra nhiễm trùng. Phần lớn các trường hợp bị cát bắn vào mắt đều gây ra hiện tượng ngứa và rát.
Nếu chỉ có một mình, bạn hãy ngồi trước gương, kéo mi mắt ra thật nhẹ nhàng và thử xác định vị trí của hạt cát. Để lấy nó ra, bạn hãy nhỏ một giọt nước vào dưới mi mắt. Hơi rát một chút nhưng không gây nguy hiểm. Hoặc gần nhà bạn có hiệu thuốc, bạn hãy dùng dung dịch natri clorua 9 phần nghìn và làm như trên.
Bạn có thể đề nghị một người nào đó lấy hạt cát ra cho bạn bằng một góc khăn mùi xoa sạch và ẩm.
Nếu hạt cát nằm quá sâu trong mắt bạn hãy để nguyên như thế, băng mắt lại bằng một miếng gạc vô trùng và đến bệnh viện ngay.
Mặt trời
Sau một ngày dạo chơi dưới ánh nắng mặt trời hoặc một cuộc dạo chơi trên biển mắt của bạn sẽ đỏ lên và cay xè. Không còn nghi ngờ gì nữa, bạn đã bị viêm hoặc loát giác mạc.
Trong trường hợp bị viêm nhẹ giác mạc có khả năng hồi phục lại các tế bào trong thời gian hai ngày nếu bạn đeo kính râm và tránh những nguồn sáng mạnh. Nếu sau 48 giờ các triệu chứng không giảm, bạn hãy đến ngay bác sĩ nhãn khoa để kiểm tra.
Một phần khác của mắt cũng bị mặt trời tấn công, đó là thủy tinh thể. Vào cuối ngày các thấu kính thị giác thở lên ít đàn hồi. Biện pháp phòng ngừa tốt nhất với tác hại của tia cực tím là đeo kính râm. Bạn hãy chọn những loại kính đúng tiêu chuẩn.
Về bể bơi
Các bể bơi thường có nhiều chất do hoặc các chất làm sạch nước, và các tác nhân gây bệnh đau mắt đỏ. Khi bị đau mắt đỏ, bạn có cảm giác nhức nhối khó chịu ở trong mắt giống như có một cái gì đó bay vào trong mắt hoặc cảm giác như có bụi ở trong mắt. Mắt của bạn sẽ đỏ lên, chảy nước mắt rất nhiều, nhức mắt khi nhìn vào ánh sáng, đôi khi mưng mủ ở giai đoạn cuối. Trong những trường hợp như thế này hãy bắt đầu việc rửa mắt bằng dung dịch natri clorua 9 phần nghìn, sau đó sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa kháng sinh (theo chỉ dẫn của bác sĩ). Nếu bệnh đau mắt đỏ của bạn kéo dài nhiều ngày cần phải đi khám.
Coi chừng sự độc hại do máy photo
Tôi làm máy photo đã hơn 2 năm thì thấy cũng sẵn việc nên tôi rất ham, có ngày đứng máy từ sáng đến đêm chỉ nghỉ ít phút ăn cơm, sức khỏe vẫn bình thường. Nhưng nghe nói nếu làm lâu sẽ bị nhiễm độc. Vậy để tránh được những tác hại của máy nên làm thế nào? Những trường hợp nào không nên đứng thao tác máy.
Hải Yến (Phòng vi tính Nhà xuất bản Đồng Nai)
Những người thao tác máy photo lâu dài nếu không biết chú ý tự mình phòng hộ thì có khả năng sẽ xuất hiện các triệu chứng như khô háo miệng vào họng, tức ngực, thị lực giảm sút, nghiêm trọng hơn cơ thể bị trúng độc gây phù phổi, trong y học gọi là “chúng bệnh tổng hợp máy photo”.
Nguyên là máy photo khi làm việc vì tác dụng tĩnh điện mà làm cho nồng độ ozon (O3) trong phòng đặt máy cao, tỉ trọng ozon lớn, lưu động chậm, có tác dụng oxy hóa rất mạnh, khí ni tơ trong không khí ở phòng đặt máy cũng sẽ bị oxy hóa, sinh ra hợp chất nitrit. Những thể khí này có tác dụng kích thích khá mạnh đối với hô hấp của con người, nếu trong phòng không thông gió tốt, người làm việc trong phòng hít phải ozon và nitrit với nồng độ cao sẽ xuất hiện “chứng bệnh tổng hợp máy photo”. Nếu một mét khối không khí trong phòng có 10 miligam khí ozon, mà cơ thể con người hít vào phải qua nhiều ngày, thì khí ozon sẽ đọng lại trong phổi, gây nên hiện tượng phù phổi.
Do đó, máy photo cần phải đặt ở trong phòng thông gió tương đối tốt. Nếu điều kiện thông gió kém, thì trong vòng từ 20 đến 25 phút người thao tác máy cần ra ngoài nghỉ một lát, rồi sau mới vào tiếp tục làm việc. Phải thường xuyên rửa và lau chùi máy photo, khử hết các bột phấn mực, ngăn ngừa không cho bụi phấn bay tứ tung trong phòng, khi rửa và lau chùi máy, có thể dùng rượu cồn 95%, không nên dùng dung dịch benzen. Nhân viên thao tác máy nên thường xuyên uống thêm vitamin E để bảo vệ màng tế bào trong cơ thể khỏi bị tổn thương bởi nitri. Những người bị viêm phế quản và phụ nữ có thai không nên đứng thao tác máy photo.
Nguyễn Sĩ Bằng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998