Một nhà văn đa tài của việt nam

Vốn sinh ra trong một gia đình làm nghề sơn guốc ở làng Chợ Giàu vùng Bắc Ninh, lại là con của bà vợ ba, nhà văn Kim Lân tự giễu cái sự không được học tử tế của mình bằng nụ cười rất nghệ sĩ.
-Tôi vừa sơn guốc, vừa viết. Như thế này : tay trái cầm guốc, tay phải phết sơn, khắc hoa. Lúc nghĩ ra được câu gì thì vớ bút viết xuống tờ giấy để cạnh.
Ở làng, ông tổ chức ra một nhóm trẻ tự làm một tờ báo viết tay, có cả vẽ tranh truyện rồi phát cho trẻ làng đọc. Rồi thành lập một đội kịch, tự biên tự diễn tự thưởng thức. Đội kịch này về sau có một vài nghệ sĩ có tên tuổi, trong đó có nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và ông – nhà văn Kim Lân. Rồi nhà văn Kim Lân lên Việt Bắc, và chính thời kỳ này ông được sống những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ, ông học được nhiều nhất, được gắn bó với những bậc danh tài của đất nước như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Nam Cao, Nguyên Hồng v.v… Những năm sau này, khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông cùng nhà văn Nguyên Hồng đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển các thế hệ nhà văn nối tiếp, đặc biệt thế hệ nhà văn chống Mỹ. Ông kể về sự phát hiện ra Phạm Thị Hoài : “Cô ấy gửi truyện đến, đề tên Vô Danh, còn truyện lại là Vô Đề. Tôi nghĩ : truyện có đề thế này sao lại không đề ? Mình có cái tên sao không chịu trách nhiệm với tên ? Thế là truyện được đặt lại thành “Thiên Sứ”.
Trước đó, ở lớp bồi dưỡng viết văn Quảng Bá, khi đọc đến đoạn văn Lê Lựu viết về một ông lão đánh cá, rồi tả cá quẫy theo cách riêng của từng loài… ông nói với Nguyên Hồng :
-Lớp hậu sinh giỏi quá !
Và ông đã chỉ nhận mình là bạn của học viên, cố gắng phát hiện ở họ những khả năng tiềm ẩn để bồi dưỡng thành tài, bởi ông biết rằng văn chương là một cái gì thiêng liêng không nên cắt nghĩa bằng lí luận.
Nhưng bạn đọc văn học có thể còn chưa biết Kim Lân – vốn là một nghệ sĩ kịch nghệ – vòn có một cái duyên với điện ảnh. Người dân ở nhiều vùng quê không biết nhà văn Kim Lân là ai, nhưng cái ông.. lão Hạc ở làng Vũ Đại ngày ấy thì nhiều người biết. Ông lão có đôi mắt nhấp nháy, khóe miệng nửa mếu nửa cười ấy đã được ghi danh vào làng diễn viên điện ảnh, với những bộ phim khác nữa như Đàn chim trở về, Thời hiện tại…
Võ Xuân Hà – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 26 (682) – 1996

Đội ngũ cán bộ y tế được chú trọng và đào tạo

Trước Cách mạng Tháng 8-1945, cả Đông Dương chỉ có một trường thuốc, đào tạo từ năm 1902 đến năm 1945 được 231 người bao gồm cả y dược, nha và nữ hộ sinh. Khi Cách mạng Tháng tám thành công, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc đào tạo cán bộ, đầu tiên bằng việc cho phép Trường đại học y – dược hoạt động trở lại (10-1945), thành lập Trường y sỹ liên khu 3-4 và Trường y sĩ liên khu 1-10 năm 1948, cử cán bộ đi học tại nước bạn. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, tại miền Bắc XHCN sự nghiệp đào tạo cán bộ y tế phát triển không ngừng cả về chất lượng và số lượng. Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước chúng ta đã đưa vào hoạt động Trường đại học y-dược thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học y Huế, Khoa y đại học Cần Thơ, Khoa y đại học Tây nguyên. Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đã có trường trung học y tế bảo đảm việc đào tạo chủ động cho địa phương mình. Đến nay về mạng lưới đào tạo chúng ta đã xây dựng được hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng gồm 11 trường, hệ trung học có 48 trường trung học y tế với chất lượng ngày càng được cải tiến phù hợp với nhu cầu của công tác BVSK nhân dân
Trong 50 năm qua, chúng ta đã chú trọng đào tạo mới và xây dựng được một đội ngũ cán bộ y tế đông đảo, với tỷ lệ trên 100.000 dân là: bác sỹ 4.07; y sỹ 10.2; dược sỹ đại học 0.8; số cán bộ y tế xã 51.2. Đặc biệt Bộ y tế đã chú trọng nâng cao chất lượng cho cán bộ y tế bằng các hình thức đào tạo lại, bổ túc nâng cao trình độ chuyên môn với dịch vụ quản lý, đa dạng hóa các loại hình đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ y tế. Đối với các tỉnh miền núi, nhiều học sinh là con em các dân tộc ít người được đào tạo y tá – nữ hộ sinh. Một số huyện đã điều động cán bộ chuyên môn xuống tăng cường cho những xã quá thiếu cán bộ để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người dân những nơi xa xôi hẻo lánh. Đã có gần 80% cán bộ quản lý y tế huyện và trưởng trạm y tế xã được tập huấn về công tác quản lý và chuyên môn kỹ thuật theo nội dung các chương trình y tế trọng điểm quốc gia. Theo Quyết định 58TTg thì những cán bộ y tế cơ sở không thuộc biên chế nhà nước được trả lương và phụ cấp như cán bộ dùng trình độ ở trong biên chế. Số cán bộ y tế công tác tại các xã ở miền núi đã được tuyển dụng vào biên chế Nhà nước. Giám đốc Trung tâm y tế huyện quản lý trả lương hàng tháng tạo được sự gắn bó trách nhiệm giữa y tế huyện và y tế cơ sở, động viên được anh chị em yên tâm, hào hứng với công việc phục vụ sức khỏe đồng bào các dân tộc
DS. Nguyễn Trọng Nhân – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 14 (639) – 1995

Ngành y tế việt nam 50 năm xây dựng và phát triển

50 năm qua Cách mạng tháng Tám, ngành y tế đã thu được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân (CS-BVSKND) trải qua những năm kháng chiến giành độc lập tự do cho dân tộc và xây dựng Tổ quốc, phương châm hoạt động của ngành y tế là phục vụ sản xuất, dân sinh và quốc phòng. Ngành y tế Việt nam có nhiệm vụ nặng nề: vừa giải quyết các hậu quả do chiến tranh để lại, đồng thời phải nâng cao chất lượng bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, với nỗ lực không ngừng của các thế hệ cán bộ y tế, mạng lưới chăm sóc sức khỏe (CSSK) từng bước được xây dựng rộng khắp và củng cố vững chắc, chất lượng các dịch vụ CSSK đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu không ngừng tăng lên. Mọi người dân đều được công bằng quan tâm chăm sóc sức khỏe và củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ ta. Nhờ làm tốt công tác y học dự phòng, phòng chống dịch bệnh nên nhiều bệnh dịch và bệnh xã hội đã được không chế hoặc loại trừ, sức khỏe và tuổi thọ của nhân dân tăng
Những thành tựu quan trọng:
Trong những năm còn chiến tranh cũng như sau khi phải phóng đất nước, ngành y tế đã tập trung vào công tác khôi phục, xây dựng và phát triển mạng lưới y tế đã tập trung vào công tác khôi phục, xây dựng và phát triển mạng lưới y tế, cải tạo các cơ sở y dược phù hợp với nền y tế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đến nay, trên tất cả 53 tỉnh thành phố và 500 huyện đã có các bệnh viện đa khoa và nhiều bệnh viện chuyên khoa. Nhiều viện nghiên cứu y học tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò chỉ đạo chuyên môn kĩ thuật, được củng cố và phát triển
Thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là việc tập trung củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở:
Bộ y tế đã đặt công tác củng cố y tế cơ sở là một trong những công tác quan trọng của ngành. Trên cả nước, mạng lưới y tế đã được phủ kín đến xã, phường, đến thôn bản ở vùng núi cao hẻo lánh. Nếu năm 1955 cả nước chỉ có 200 trạm y tế xã thì đến năm 1994 chúng ta đã có 9.205 trạm y tế xã, phường. Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết Trung ương lần thứ tư về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, hoạt động của y tế cơ sở đã được củng cố một bước rõ rệt cả về mạng lưới và tổ chức cán bộ, về nâng cấp trang thiết bị và nhà trạm, về đổi mới hoạt động theo hướng chăm sóc sứ khỏe ban đầu (CSSKBĐ). Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định 58/TTg ngày 3-2-1994 về tổ chức và chính sách đối với cán bộ y tế cơ sở đã làm xuất hiện những nhân tố mới, mô hình mới, mở ra khả năng thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa công tác CS-BVSKND, làm tốt công tác CSSKBĐ ở từng gia đình, từng thôn bản
GS. Nguyễn Trọng Nhân – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 14 (639) – 1995

Bảo vệ môi sinh môi trường

Sự phát triển công nghiệp thường kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường, môi sinh nếu không có biện pháp xử lý có hiệu quả qua các chất thải công nghiệp.
Năm 1927, hãng Chissco cho xây dựng một nhà máy hóa chất ở vùng vịnh Minamata thuộc đảo Kyushu miền nam Nhật Bản.
Vào những năm năm mươi, ở vùng này xuất hiện một chứng bệnh kỳ lạ mà trước đó chưa bao giờ có, người ta đặt tên cho nó là bệnh minamata. Hội chứng phức tạp của bệnh gây thương tổn đến hệ thần kinh làm cho bệnh nhân đau đớn, khổ ở trông rất thương tâm. Số tử vong ngày càng nhiều. Nếu may mắn sống sót thì cũng thành dị hình, dị dạng.
Năm 1959, Trường đại học y Kumamoto công bố một công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh minamata. Đó là do chất thải của nhà máy Chissco thường xuyên tống ra vịnh. Trong chất thải có chứa thủy ngân. Các loại tôm, cá, ngêu, sò ăn phải chất thải này, rồi nhân dân trong vùng lại ăn phải những sinh vật đó nên mới sinh bệnh. Người ta ước tính đã có hàng nghìn người chết vì bệnh này.
Sự phát hiện nguyên nhân căn bệnh minamata đã làm xôn xao dư luận ở Nhật. Nhân dân trong vùng có nhà máy phản ứng mạnh mẽ. Các nhà khoa học, nhà văn, nhà báo… lên tiếng phê phán ban quản lý nhà máy Chissco và những cơ quan có trách nhiệm bảo vệ môi trường, môi sinh đã làm ngơ không quan tâm đến vấn đề này. Bệnh nhân mắc bệnh minamata và thân nhân của họ đã làm đơn kiện và ban quản lý nhà máy đã phải ra hầu tòa.
Hiện nay, do chính sách mở cửa của Nhà nước ta, nhiều tập đoàn công nghiệp lớn ở nước ngoài đang thi nhau vào đầu tư ở nước ta bởi vì nhân công rẻ và những hoạt động của họ không bị kiểm soát nghiêm ngặt như ở nước của họ. Thiết tưởng bài học minamata ở Nhật rất đáng được chúng ta chú ý để có những luật lệ chặt chẽ trong việc bảo vệ môi sinh môi trường, đề phòng những tổn thất không lường trước được.
Tục ngữ Anh
Nghỉ ngơi sau bữa trưa, dạo chơi sau bữa tối.
(After dinner sit (sleep) a while, after supper walk a mile)
Đầu óc minh mẩn trong một cơ thể khỏe mạnh.
(A sound mind in a sound body)
Mỗi ngày ăn một quả táo thì thầy thuốc tránh xa.
(An apple a day keeps the doctor way)
Một giờ buổi sáng sánh với hai tiếng đồng hồ buổi tối.
(An hour in the morning is worth two in the evening).
Trịnh Hồ Khoa (Trường đại học Tổng hợp) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Hậm hực và tiếc rẻ

Lúc sau, họ trao đổi gì đó nho nhỏ với nhau, rồi cùng rảo bước trở lại. Thấy vậy Lỗ Bình vội vàng chạy lên sân thượng ngó xuống thì thấy hai người kia đang lượn vòng từ con đường ở phía sau lên con đường ở phía trước.
Lỗ Bình lén nhìn thấy người đàn ông vạm vỡ mặc áo dài tay nháy mắt ra hiệu cho gã thanh niên vận bộ công nhân, cả hai tiến tới trước cửa ngôi nhà mang số 34, một người ấn chuông điện rồi cất tiếng dõng dạc : – Đây có phải là nhà họ Vương không ? Ông chủ muốn chỉnh công-tơ điện có phải không ?
Một giọng nữ khô và uể oải vọng ra từ khoang gỗ trên cánh cửa nhà số 34 :
Không, không đâu !
Ấy ! Ông chủ chẳng viết thư tới công ty điện lực đấy sao ? – Người đàn ông vạm vỡ vừa nói vừa đưa ánh mắt sắc như ưng đói tìm mồi nhòm vào phía trong qua khoang gỗ nhỏ trên cánh cửa. Ngay lập tức cái khoang gỗ ấy được đẩy khít chặt lại. Người đàn ông vạm vỡ quay về phía người thanh niên và nhún vai một cái. Thấy cảnh ấy, Lỗ Bình thừa biết chuyện tới chỉnh công-tơ điện của hai người kia chỉ là giả thác. Họ cần gì ?
Lúc ấy, chàng họa sĩ rởm họ Lỗ lại thấy người thanh niên vẻ như ngập ngừng, ý như muốn tới gõ cửa nhà mang số 33, nhưng vừa lúc người đàn ông vạm vỡ rướn cổ nhìn lên thì bắt gặp ngay ánh mắt của Lỗ Bình rọi thẳng mặt. Ông ta chợt hửng, lập tức nháy mắt – đôi mắt nham hiểm hình tam giác – “phím” cho người trẻ đừng hành động. thế rồi họ lại trở ra đường, có lẽ sẽ đi thẳng.
Thấy tình hình ấy, họ Lỗ đầy lòng ngờ vực, nảy ngay ra ý : quyết định phải bám theo hai gã đàn ông khả nghi kia, lần cho ra nhẽ. Nghĩ thế rồi chàng họa sĩ rởm lao như tên bắn ra cửa, chạy về phái cổng thôn. Lỗ Bình chắc mẫm hai tay kia vẫn chưa thể đi xa, không ngờ, chàng ta quay tứ phía mà chẳng thấy bóng dáng họ đâu cả, đường vắng tanh, có chăng chỉ thấy cái hình mờ mờ của chính chàng họa sĩ in trên nền đường. Lòng ngờ vực trong chàng lại tăng lên hơn và chàng cũng lấy làm tiếc, vì đã để xổng mất một cơ hội lớn. Thế rồi, chàng đành phải tiu nghỉu quay trở lại nhà. Về đến nhà, họ Lỗ theo thói quen nghề nghiệp lấy sổ tay ra, hí hoáy thật tỉ mỉ mọi chi tiết xảy ra trong ngày, viết mà trong lòng chất đầy hậm hực và tiếc rẻ.
Tôn Liễu Hồng (TQ) – Chu Xuân Giao dịch – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Những điều nên lưu ý về dầu

Như thế là khi ăn dầu thực vật (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu xalat) người ta sẽ chỉ phải hấp thu lượng nhỏ axit béo bão hòa so với ăn mỡ động vật. Những người có thói quen ăn thịt, vi hàm lượng axit béo bão hòa đã cao, nên tốt nhất là chọn dùng salat, dầu lạc, dầu hướng dương, v.v… Bạn có thể dùng thêm dầu oliu nhưng không nên lấy dầu oliu làm nguồn cung cấp chủ yếu các chất béo (.)
Để hấp thụ được nhiều thành phần có ích trong các loại dầu thực vật, bạn có thể đồng thời mua mấy loại dầu rồi sử dụng luân phiên, đổi bữa. Hiện nay trên thị trường cũng đã có bán loại dầu hỗn hợp, dùng loại này cũng rất tốt và tiện lợi (.)
Nhưng đã gọi là dầu thì tính chất sinh nhiệt lượng cao của nó đã bất biến; nếu lạm dụng thì dương nhiễn vẫn dẫn tới các chứng phát phì, chất mỡ trong máu cao, vì vậy, lượng dùng hạn chế càng ít càng tốt. (.)

Thanh tra việc sử dụng 31.500 USD tiền lãi của chương trình SIDA – Nguyễn Huy Quang
Để xác định rõ nguồn gốc, việc quản lý và sử dụng 31.500 USD tiền lãi của Chương trình SIDA đã được Liên hiệp xí nghiệp dược Việt Nam sử dụng nhập thuốc từ đầu năm 1991 và kiến nghị hướng xử lý đối với những sai phạm. Bộ trưởng Bộ y tế đã ra Quyết định số 1058/BYT – QĐ ngày 20-6-1995 thành lập Đoàn thanh tra để xem xét những vấn đề nêu trên (.)

Thành lập công ty liên doanh dược phẩm GATEWAY
Ngày 7-7-1995, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư đã cấp giấy phép đầu tư số 1306/GP cho phép thành lập công ty liên doanh để sản xuất thuốc chữa bệnh và dịch truyền cho người. Công ty có tên gọi là Công ty liên doanh dược phẩm GATEWAY, tên tiếng Anh là GATEWAY PHARMACEUTICALS, trụ sở và xưởng bào chế thuốc đặt tại xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Vốn đầu tư của công ty liên doanh là 33.250.740 USD. Vốn pháp định là 10.307.730 USD, trong đó, bên Việt Nam (Công ty xuất nhập khẩu, Bộ y tế) góp 3.092.320 USD, chiếm 30% vốn pháp định, bên nước ngoài (GATEWAY PHARMACEUTICALS LIMITED, Ai-xơ-len) góp 7.215.410 USD chiếm 70% vốn pháp định. Thời hạn hoạt động của công ty liên doanh là 35 năm kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư (.)
Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 14 (639) – 1995

Công dụng quả ớt

Một trong những gia vị được Cri-xtôp Cô-lông khám phá trong vùng Ca-ri-bê là ớt. Gốc ở Bô-li-vi-a, cây ớt đã được trồng từ rất lâu ở trên Thế Giới. Năm 1548, Clu-si-ut, một thầy thuốc đã mô tả cây ớt lần đầu tiên dưới tên Sillquastrum, và cũng năm đó, ớt được người Tây Ban Nha đưa vào châu u, nhất là ở I-ta-li-a. Ở đây, nó được đặt tên là “Chiếc sừng của Sanho”. Ít lâu sau, người Bồ Đào Nha mang nhập vào Mô-va-vi rồi Ấn Độ, ở đó, người dân quen nấu ăn có gia vị rất thích dùng và chẳng bao lâu quả ớt có mặt ở hầu hết các bếp trên thế giới.
Ở Ấn Độ, ớt thật cay, người ta ăn sống hoặc ngậm, muốn bảo quản thì sấy hoặc phơi rồi giã thành bột. Ở Mỹ La Tinh ớt được ăn tươi hoặc khô. Ở Xay-en (thủ đô Guy-an, Nam Mỹ) trống rất nhiều ớt. Ớt được phơi khô rồi xay thành thứ “tiêu Xay-en” nổi tiếng. Hung-ga-ri là nước sản xuất nhiều ớt đỏ bán ra dưới dạng bột gọi là pa-pri-ka. Ở Pháp , các giống ớt cay nhất được đưa vào nấu canh tôm, cua, mà từ thế kỷ trước đã có tiếng làm dậy lên những cơn yêu đương nồng cháy
Tùy theo màu sắc, mùi vị, hình dáng và kích thước có đến 50 loại ớt, nhưng thực ra,chỉ có hai loại được trồng phổ biến. Giống thứ nhất cây cao 30cm đến 1m, lá bầu dục xen kẽ, hoa nở trắng vào tháng 8, sau một tháng có quả, xứ nóng ăn được 6 tháng, xứ lạnh 4 tháng. Giống thứ hai cây ớt khỏe nhưng dễ gãy, chỉ mọc xứ nóng, quả bé 1-4cm nhưng rất cay. Ở Mê-xi-co người ta ăn ớt tươi, ớt nấu, ướp hay làm thành mứt, vừa là rau, vừa là gia vị. Thành phần cay của ớt do một chất là cap-si-cin tạo nên, trong dunh dịch 1/100.000 cũng đã có vị cay, mà người ta đã xếp đến những 120 bậc. Quả ớt quen thuộc Gra-la-pe-po, cay xé lưỡi nhưng cũng chỉ đứng vào hàng thứ 15. Thành phần thứ 2 là cap-si-cin, không cay có tác dụng tạo ra ca-ro-ten, chất này làm trứng có lòng đỏ thắm hơn. Trong ớt còn có vitamin A và C. Chính từ ớt Hung-ga-ri mà hai nhà khoa học Den Gi-o-gi và Soi-ec-be-li đã chiết ra lần đầu tiên, năm 1972 chất vitamin C ở trạng thái tinh thể. Nhiều năm qua, ớt là nguồn duy nhất tạo ra vitamin này. Ngoài ra ớt còn chứa tinh dầu muối khoáng như canixi, magiê, kali.
Ớt cũng có một số dược tính. Năm 1963, một thầy thuốc danh tiếng tên là Gac-xi-a-da Ooc-ta nhận xét, ớt có khả năng trị sốt. Nhờ ăn ớt, người bản xứ chịu được nóng cao, vị ớt làm thoát hơi nước, tiết vị, giãn nở mạch máu. Ăn một lượng ít, nó hạ được nhiệt. Ớt còn là chất kích thích nhất về tiêu hóa. Tuy nhiên, mọi chuyên gia y học đều thống nhất cho rằng, ớt dùng liều cao sẽ gây viêm loét dạ dày vì vậy cũng nên dùng ớt với độ vừa phải.
Bùi Trọng Nhơn – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 14 (639) – 1995

Công ty cát tiên sa

Ông đang kiến nghị Bộ VHTT nên có chế định rõ ràng để họ được thừa nhận về mặt luật pháp, từ đó có cơ hội cống hiến cho xã hội và nhân dân. Các người mẫu Bảo Ngọc, hoa hậu Hà Kiều Anh, Á hậu điện ảnh Mỹ Uyên, Đức Hải, Quốc Thắng, đạo diễn Thái Tài,… rất vui mừng khi họ có nơi để hoạt động và phát huy tài năng của mình. Ông Dương Văn Đầy – Giám đốc Công ty Du lịch TP đơn bị phối hợp cũng hy vọng Cát Tiên Sa sẽ bảo vệ và giúp đỡ người mẫu tỏa hương sắc bằng nét đẹp duyên dáng Việt Nam, những tinh hoa truyền thống Việt Nam. Chị Lê thị Cẩm Phúc nói : “Đây là Công ty ra đời quá mới. Lĩnh vực đầy phức tạp, cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cấp, các ngành, cơ quan báo chí đối với chúng tôi”. Hai mươi lăm người mẫu nam và nữ, thực sự bước vào thử thách khi họ đã có sân khấu, có niềm tin và vị trí, khán giả… Nhưng, khó khăn vẫn còn rất nhiều. Hy vọng “ Cát Tiên Sa” vượt qua được những thử thách mở đường cho một nghề rất mới ở nước ta – nghề giới thiệu người mẫu, nghề tạo mốt và biểu diễn thời trang.
Nhạc sĩ Phạm Tuyên
L.T.S – Nhạc sĩ Phạm Tuyên là một trong số ít tác giả được nhận phần thưởng “Ấn tượng 20 năm” do LĐLĐ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 30-4-1995, và cũng là nhạc sĩ ở Hà Nội duy nhất được chọn trao giải.
P.V : Thưa thạc sĩ !
Cứ đến mùa hội diễn hoặc những ngày kỷ niệm trong năm của ngành y, khi mọi người nói về những bài hát viết về ngành y thì dường như tên tuổi của nhạc sĩ Phạm Tuyên luôn được nhắc tới.
Vậy nhạc sĩ có thể cho chúng tôi biết nhạc sĩ đã có bao nhiêu bài hát viết về ngành Y ?
N.S : (Cười thật tươi – Vui và hồn hậu đến vậy)
Ồ ! có lẽ câu hỏi của bạn dành cho tôi thật bất ngờ. Vâng, nó chẳng khác nào chính lúc này đây tôi đang được Tuần báo Sức khỏe và Đời sống đến thăm hỏi cặn kẽ với riêng tôi vậy.
Viết về ngành Y cũng chẳng phải chỉ có riêng mình tôi đâu. Song, có được buổi gặp gỡ hôm nay, có lẽ là những bài viết của tôi đã trải được đủ 2 yếu tố thách đố đối với người sáng tác âm nhạc đó là : Quần chúng và thời gian, tôi cho là như vậy, bởi 2 yếu tố thách đố ấy thật hết sức quan trọng để bài viết của Người nhạc sĩ được sống lâu trong quần chúng.
Nguyễn Trung – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Thẻ theo dõi lịch trình tiêm chủng

Nhìn bề ngoài, loại thẻ theo dõi lịch trình tiêm chủng không khác chiếc thẻ điện thoại điện tử thông thường. chiếc thẻ này do các hội viên Hiệp hội bảo vệ sức khỏe ở nước Pháp Mérieux MSD chế tạo ra. Về cấu tạo, bên trong chiếc thẻ có chứa một con bọ điện tử lưu trữ mọi thông tin về số lần và các loại vacxin đã từng được tiêm chủng cho một cá nhân nào đó. Nó thực sự đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu trong y tế cộng đồng.
Chiếc thẻ độc đáo này có cùng một lúc hai tác dụng : Đối với người được tiêm chủng, nó là một chiếc giấy thông hành đặc biệt, cho biết số loại vacxin và số lần tiêm chủng, tránh được nguy cơ tăng quá số lần quy định dẫn đến các tai biến đáng tiếc. Còn đối với ngành y tế, các thẻ này có thể nhanh chóng cho biết một tỷ lệ chính xác số người được tiêm chủng là bao nhiêu trong một khi vực nhất định. Tại Grenoble (Pháp), loại thẻ này đã được ứng dụng một cách rộng rãi để thay thế các loại lịch tiêm chủng cổ điển.
Túi độn ngực có chứa Silicone
Dư luận thế giới, đặc biệt ở Mỹ một thời xôn xao với việc đặt các túi độn ngực chứa chất dẻo silicone có liên hệ đến ung thư vú và các bệnh thuộc mô liên kết (viêm khớp, dị ứng… ). Các vụ kiện cáo đã đưa công ty Dow Corning của Mỹ chuyên sản xuất các túi độn ngực bằng Silicone phải tuyên bố phá sản, nhưng hiện nay tình trạng chung như thế nào, các túi độn ngực bằng Silicone có còn được sản xuất nữa hay không và luật pháp các nước có còn ngăn cấm việc sử dụng túi độn ngực có chứa Silicone nữa không ?
Chúng tôi xin trích đăng những thông tin mới nhất từ Viện Hàn lâm giải phẫu thẩm mỹ Hoa Kỳ để giải đáp các thắc mắc nêu trên :
Trong một bản tin mới đây Viện Hàn lâm giải phẫu thẩm mỹ Hoa Kỳ nhắc lại sự ủng hộ các khảo cứu nhằm tìm hiểu bất cứ sự liên hệ nào giữa chất Silicone và các bệnh liên đới để trả lời về bảng báo cáo túi độn ngực (Silicone breast implant) vừa được Bộ Y tế Anh công bố.
Bảng cáo cáo xác nhận và khuyến cáo không có gì thay đổi trong việc thực hiện và cho phép sử dụng các túi độn ngực bằng Silicone ở nước Anh. Bảng báo cáo theo sát quyết định của Bộ y tế về việc chấm dứt sự ngăn cấm việc dùng các túi chứa Silicone để độn ngực ở Pháp.
PTS Kiều Khắc Đôn (Theo Femme actuelle 7-95) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Triển khai chương trình quốc gia phòng chống bệnh lao

Công tác chống lao ở nước ta đã được triển khai từ năm 1957. Đến năm 1976, Viện lao và bệnh phổi được giao trách nhiệm chỉ đạo hoạt động chống lao trong cả nước. Kết quả mới nhất về phát hiện bệnh lao trong vài năm gần đây như sau:
Năm 1990 phát hiện được 47.536 bệnh nhân, trong đó có 34.355 trường hợp BK+; năm 1991: 54.509, có 39.977 trường hợp BK+; năm 1992: 56.594, có 42.880 trường hợp BK+; năm 1993: 52.994, có 40.352 trường hợp BK+. Tỷ lệ mắc lao phổi mới tính trung bình trong cả nước theo 100.000 dân là 54; ở các tỉnh phía Bắc: 34; ở các tỉnh miền Trung: 49; ở các tỉnh phía Nam: 78. Trong thực tế chỉ có khoảng 60% số bệnh nhân lao mắc hàng năm được phát hiện; số bệnh nhân lao nói chung được phát hiện mới chỉ được 40%.
Hoạt động phòng chống lao ở nước ta đã tiến hành từ gần 4 thập kỷ nay nhưng do hoàn cảnh lịch sử và khả năng kinh phí, đến nay tình hình bệnh lao vẫn còn rất nghiêm trọng. Vì vậy, bắt đầu từ năm 1995, công tác phòng chống lao được đưa lên thành chương trình quốc gia. Đây là một thuận lợi cơ bản, một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hơn 30 năm hoạt động chống lao ở nước ta.
Nhà nước cũng đã phê duyệt kinh phí cho hoạt động trực tiếp của chương trình trong năm 1995 là 15 tỷ đồng. Mức kinh phí này tuy không hoàn toàn đáp ứng đầy đủ cho hoạt động của chương trình, phần thiếu hụt sẽ được hỗ trợ bằng viện trợ và đóng góp của ngân sách địa phương.
Mục tiêu của chương trình là trong những năm tới nếu không làm giảm được tình hình mắc lao thì ít nhất cũng không để số bệnh nhân lao tăng lên. Vì vậy việc phát hiện được nhiều nguồn lây nhiễm (ít nhất 70% theo quy định của TCYTTG) và điều trị tốt nguồn lây đó (ít nhất có 85% tổng số bệnh nhân được chữa khỏi theo quy định của TCYTTG) vẫn là những biện pháp cơ bản hữu hiệu để đạt mục tiêu trên.
Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Sau khi tái lập tỉnh, ngành y tế Ninh Bình đứng trước những khó khăn, thử thách rất lớn. Tổ chức hệ thống ngành y tế chưa ổn định, đội ngũ cán bộ “thiếu trong thừa”, lực lượng cán bộ có trình độ chuyên môn cao và chuyên khoa sâu rất ít. Cơ sở vật chất nghèo nàn trong khi ngân sách tỉnh hạn hẹp, tình trạng xuống cấp trầm trọng về nhà cửa, trang thiết bị nhất là tuyến huyện và y tế cơ sở.
BS Phạm Bật – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995