Tinh thần ham học hỏi y đức của bác sỹ

Anh chăm chú học hỏi kinh nghiệm các nước, tìm hiểu kỹ những việc họ đang làm, lắng nghe dự kiến của họ về tương lai. Nhưng tất cả những điều đó không hề làm lu mờ , suy giảm óc suy nghĩ độc lập của anh. Anh thường nói với tôi : “Chúng ta học kinh nghiệm các nước để có thể nhìn rõ hơn những điều chúng ta cần làm trên đất nước ta hôm nay và ngày mai. Nhưng chúng ta phải nắm chắc thực tế nước ta và phải sáng tạo”. Các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới mà tôi đã có dịp tiếp xúc đều tỏ ý cảm phục anh về lòng tự tôn dân tộc và tinh thần độc lập suy nghĩ. Thế mà giờ đây anh Tư Thạch không còn nữa !”.
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã mãi mãi ra đi ! Nhưng ông thuộc số ít người mà tên tuổi trường rồn cùng sông núi. Ở Thành phố Hồ Chí Minh có một đường phố đẹp, ngay tại trung tâm, mang tên : Đường Phạm Ngọc Thạch, Cơ quan đại diện báo Nhân Dân văn phòng II Bộ y tế đặt tại đường phố ấy. Cứ mỗi lần đi qua đây, tôi lại bồi hồi nhớ đến đức độ người thầy thuốc mà tôi hằng “tâm phục”. Và rồi tôi băn khoăn tự hỏi : Trong sinh viên trường Y và các thế hệ thầy thuốc trẻ hiện nay, không rõ có còn nhiều người đi theo y đạo của tiền nhân ? Lẽ nào ma lực đồng tiền có thể uốn cong cả y đức ? Phải chăng gương sáng của các bác y sư như Hồ Đắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước… phần nào đã bị lu mờ trong “cái thuở ban đầu hoang dã” của cơ chế thị trường ? Phải chăng do mải kiếm sống hay hối hả làm giàu mà không ít người đã tạm thời hay vĩnh viễn quên đi đạo lý ? Và phải chăng chúng ta đã phần nào sao lãng việc phát huy truyền thống, xây dựng nền văn minh tinh thần ?
Bình rượu tết
Ngày tết nhà nào chả có chai rượu, rượu mừng ngày tất niên, đón ngày xuân mới, rượu mừng bạn bè đến chung vui và chúc nhau “bách niên giai lão”. Rượu ngày tết, tùy mỗi nhà có các loại khác nhau. Người ta đua nhau sản xuất rượu kiếm lời trong dịp tết đến xuân về. Vì vậy nói đến rượu nhiều người sợ rượu rởm. Đã là rượu rỡn, cúng bái, chúc tụng mất thiêng, gia chủ buồn phiền lo lắng dễ sinh bệnh. Để giúp mọi nhà có rượu thật.
Song Bắc – Sức khỏe & Đời sống – Bộ Y tế – Hà Nội – Số tết Bính Tý – 1996

Chủ tịch hội đồng bộ trưởng tư thạch

Nấm phổi, ký sinh trùng phổi, giảm phế quan khô chảy máu, nhiễm bụi than, bụi si-líc…Cả một chương bệnh lý mới về các bệnh đường thở ở người Việt nam được mở ra với các công trình tiên phong của ông. Ông cũng là người đầu tiên nghiên cứu việc dùng kích sinh chất Phi-la-tốp tiệm vào các huyệt vị kinh lạc để chữa bệnh lao phổi., kết hợp với việc dùng thuốc kháng sinh. Hàng chục vạn người bệnh đã được ông và các đồng nghiệp của ông chữa khỏi. Điều đó chứng tỏ các thầy thuốc Việt Nam ta đã giải quyết được một vấn đề nan giải trong cuộc chống lao ở các nước đang phát triển : Làm sao có thể chữa tốt, chữa không tốn kém, chữa một cách đơn giản ?
Là một người thầy thuốc cách mạng, căm phẫn sâu sắc những di sản lạc hậu của xã hội cũ, ông hết sức quan tâm đến công tác phòng dịch và tiêu diệt các bệnh xã hội. Lịch sử ngành y nước ta ghi nhận những đóng góp to lớn của vị Bộ trưởng – Anh hùng của sự nghiệp nhân đạo cao cả ấy. Ông còn có công lớn lãnh đạo và góp phần đào tạo một đội ngũ đông đảo các cán bộ y tế và cán bộ nghiên cứu y học của nước nhà.
Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng nói về ông : “Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một chiến sĩ kiên cường của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc (…) Bác sĩ đã nêu gương về cách nhìn , cách nghĩ, cách nghiên cứu để giải quyết một cách sáng tạo và độc đáo những vấn đề khó khăn và phức tạp của việc thanh toán những bệnh tật do chế độ cũ để lại”.
Giáo sư Hồ Đắc Di kể tiếp : “Tôi nhiều lần được bàn bạc, trao đổi ý kiến với Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch về tiền đồ nền y học thế giới và nền y học nước nhà. Trình độ hiểu biết sâu rộng cả về lý luận và thực tiễn của anh khiến tôi cảm phục. Tình cảm của anh đối với công nhân, nông dân, bộ đội, và nhất là đối với đồng bào miền nam ruột thịt thật sâu sắc. Tình cảm ấy ngày đêm thôi thúc anh làm việc. Nhiều lần anh nói với tôi về ước mơ của anh được trở lại miền nam, xông ra tiến tuyến lớn, cùng bà con, cô bác trong đó góp sức giải phóng quê hương. Những ý nghĩ và tình cảm của anh xúc động tôi đến tận đáy lòng.
“Tôi cũng nhớ những lần cùng anh đi công tác ra nước ngoài.
Hàm Châu – Sức khỏe & Đời sống – Bộ Y tế – Hà Nội – Số tết Bính Tý – 1996

Ostrin với bệnh thiên đầu thống

Theo tờ “Luận đàn y học Mỹ” cho biết, tiến sĩ y học Hilberstan sau một thời gian dài nghiên cứu đã phát hiện phụ nữ sau thời kỳ đầu kinh nguyệt , cùng với sự bắt đầu giao động lên xuống của mức “ostrin” ( chất kích thích tố nữ ) thì bệnh thiên đầu thống cũng bắt đầu tăng lên. Sự giao động tính chu kỳ của ostrin, nhất là sự hạ mức ostrin có tác dụng quan trọng với sự phát sinh bệnh thiên đầu thống. Trong thời kỳ kinh nguyệt, vì mức ostrin giảm xuống, thường dẫn tới sự bộc phát thiên đầu thống cũ nặng thêm. Ostrin là một loại hocmôn do buồng trứng sinh ra, ở mỗi chu kỳ hoạt động của buồng trứng, trong thời kỳ đầu trứng chín, số lượng ostron bài tiết ra tương đối ít, trong quá trình phát dục của trứng thì nồng độ ostrin tăng dần và hình thành cao điểm thứ nhất trước khi rụng trứng. Sau khi trứng rụng chừng một tuần sẽ xuất hiện cao điểm thứ hai, khi hoàng thể (corpus luteum ) bắt đầu co lại thì ostrin cũng giảm xuống nhanh chóng và đạt tới thời điểm mức thấp nhất ở thời điểm trước khi hành kinh 24 – 48 giờ. Qua kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Lipton trong bốn tháng liền đối với một số phụ nữ trong độ tuổi 22 – 29, tổng số ngày đau đầu là 2110 ngày, cho thấy ở ba ngày đầu hành kinh, mức nguy hiểm của thiên đầu thống tăng lên 50%, trong đó người có triệu chứng nguy hiểm báo trước là 42%. Điều đó về cơ bản đúng với thời kỳ giảm mức ostron trong cả chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Qua nghiên cứu còn phát hiện, sự thay mức ostrin trong thời kỳ mang thai cũng trùng khớp với sự phát sinh và diễn biến của thiên đầu thống. Trong ba tháng đầu mang thai, mức ostrin tương đối thấp, thiên đầu thống sẽ tăng nặng 3 tháng giữa và 3 tháng cuối cùng, mức ostrin tăng cao thì thiên đầu thống cũng thuyên giảm dần hoặc mất hẳn. Bệnh thiên đầu thống thường tăng nhiều ở phụ nữ trong lứa tuổi 40 – 45 tuổi. Người ta cho rằng điều này có thể liên quan với xu hướng bắt đầu giảm mức ostrin trong cơ thể trước khi mãn kinh. Căn cứ vào cơ chế xảy ra thiên đầu thống do sự giảm mức ostrin trong cơ thể trước khi hành kinh, nghĩa là khi ostrin ở mức thấp nhất, người ta ngăn chặn thiên đầu thống bằng cách cho dùng ostrin và thuốc chống viêm giảm đau “non – solid alcohol”. Trong trường hợp thiên đầu thống sau khi mãn kinh cũng có thể điều trị bằng cách bổ sung ostrin, thực tế cho thấy đạt hiệu quả khá tốt.
Bùi Hữu Cường – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 15 (640) – 1995

Tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của phụ nữ

Tuổi thọ của phụ nữ và chất lượng cuộc sống của họ tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, sự chăm sóc y tế ngay từ khi mới lọt lòng, đúng hơn là khi còn trong bụng mẹ. việc lạm dụng thuốc lá, rượu hoặc ma túy ; dinh dưỡng không đủ ; môi trường thiếu trong sạch… của người mẹ và của chính bản thân đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sức khỏe : tật nguyền, suy giảm sức khỏe và chóng già… So với phụ nữ các nước phát triển, thời gian sống trung bình của phụ nữ ở các nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp hơn 15 năm, còn phụ nữ ở các nước nghèo khổ nhất là 30 năm ( ở những nơi này tuổi thọ trung bình chỉ 50 năm ) ; một số khác có may mắn sống lâu hơn thì trong những năm cuối đời phải chịu cảnh góa bụa, tàn tật, nghèo túng, cô đơn ; hầu hết phải sống bằng những nguồn lực ít ỏi. Tại cuộc họp của Ủy ban toàn cầu về sức khỏe của phụ nữ ( tháng 9 – 45 ở Australia ) Tiến sĩ S. T. Han, giám đốc khu vực Tây Thái Bình Dương của tổ chức Y tế thế giới đã nhấn mạnh rằng sự tăng nhanh của số người có tuổi có quan hệ trực tiếp với nhiều lĩnh vực: chăm sóc sức khỏe, khả năng tài chính, sự thích nghi và vai trò của họ trong cộng đồng đặt biệt ở các đô thị. Sự giáo dục là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe để mỗi người có thể sống lâu, sống khỏe mạnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh tim và bệnh đột quỵ là thủ phạm của 60% số tử vong của phụ nữ trưởng thành các nước phát triển cũng là những nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn phế ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên ở các nước đang phát triển một khi tuổi thọ và mức sống của họ được cải thiện. Ung thư cổ tử cung cũng là thủ phạm gây tử vong ở phụ nữ, mỗi năm có khoảng 460 nghìn trường hợp được phát hiện, hầu hết thuộc các nước đang phát triển, tỷ lệ gây tử vong ở đây cao gấp 3 – 6 lần các nước phát triển. Đây là bệnh có thể ngăn ngừa được bằng các biện pháp vệ sinh cá nhân, theo dõi thường xuyên và điều trị sớm. Việc theo dõi để phát hiện bệnh sớm có ý nghĩa đặc biệt làm giảm tử vong. Các số liệu thống kê cho thấy: Nếu được theo dõi 5 năm một lần sẽ giảm được 85% số tử vong, 10 năm một lần giảm được 64%. Với phụ nữ có tuổi dù chỉ được theo dõi 1 lần trong đời cũng sẽ phòng ngừa được nhiều trường hợp ung thư cổ tử cung hơn khi chỉ có một số nhỏ những phụ nữ trẻ được kiểm tra vài năm một lần.
QN – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 15 (640) – 1995

Tình trạng của những bệnh nhân tỉnh lẻ

Trên một chuyến xe khách Hà Nội – Thái Bình tình cờ tôi gặp chị Nguyễn Thị Đình, 31 tuổi ở bản Phủ, xã No dòng Họ, Điện Biên, Lai Châu. Chị có quê gốc ở Thái Bình để đánh tiếng cho anh em, họ hàng biết rằng hãy chuẩn bị tinh thần cho vợ chồng chị mượn tiền để chạy chữa cho đứa con 7 tuổi đang điều trị bệnh thận ở Bệnh viện Nhi Thụy Điển. Mới có gần 10 ngày ở Hà Nội, chưa phải tiền thuốc men, viện phí gì cho con nhưng vợ chồng chị đã phải chi tới một triệu, nguyên tiền đi xích lô hỏi đường tới bệnh viện cũng đã chiếm nom trăm ngàn ! Chị méo mặt than thở, nếu như sự chẩn đoán của các bác sĩ là chính xác thì con chị phải thay thận, vợ chồng chị phải chi vào đấy từ 5 đến 10 triệu để đổi lấy sự sống của con. Không bán nhà thì cũng phải còng lưng dăm mười năm mà trả nợ.
Sẽ là một sai sót lớn nếu như trong bài phóng sự này tôi không đề cập đến những trung tâm dịch vụ y tế đã và đang mọc lên như nấm ở các tỉnh từ cấp thôn, cấp xã, cấp huyện đến cấp tỉnh vì hầu như các bệnh nhân ở tỉnh lẻ trước khi lên Hà Nội chữa chạy họ đều đã nếm trải “mùi đời” ở các trung tâm đó. Dĩ nhiên đã gọi là dịch vụ thì họ phải xì tiền từ A đến Z, song vì các cơ sở “Di vu” đó do thiếu bác sĩ giỏi, thiếu dụng cụ, máy móc nên sau một thời gian điều trị bệnh không khỏi, các bệnh nhân được các cơ sở này kính chuyển lên các bệnh viện lớn ở Hà Nội. Không hiếm con bệnh, do trình độ “gà mờ” của bác sĩ đã được mổ khẩn cấp rồi khâu vào khẩn cấp vì chẩn đoán sai ! Đối với trường hợp này lẽ ra các trung tâm “Di vu” đó phải hoàn trả lại mọi khoản tiền cho bệnh nhân nhưng trong thực tế thì “quên đi”.
Hiện nay những bệnh nhân tỉnh lẻ đổ về các thành phố lớn chữa bệnh ngày càng nhiều. Nên chăng ngành y tế cần sớm ban hành những chính sách ưu ái, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ điều trị bình đẳng như những người ở thành phố.
Lời cổ nhân
Cứ bảy ngày thì ngũ tạng truyền biến khắp một lần : nguyên khí hồi lại. Đáng lí phải khỏe lên, lại thấy suy yếu đi. Có lẽ trước kia dùng quá nhiều thuốc công phạt, nên nguyên khí bại mất rồi. Sách có nói : “Vị khí đã bại, thuốc nào cũng chịu”.
Hải Thượng Lãn Ông
Vũ Đám – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Những bệnh nhân tỉnh lẻ

Không có tiền ăn uống, mua thuốc, ông phải đi xin, xin từ cô y tá đến anh bảo vệ, thậm chí xin cả bệnh nhân ! Bây giờ, sau gần 10 ngày điều trị, bệnh chưa khỏi nhưng ông phải về thôi, vì không tiền !
Những người dân tỉnh lẻ, ở các vùng quê lên thành phố chữa bệnh đều mang nặng một mặc cảm là “dân quê”, thành thử mỗi lời nói, cử chỉ đều cóm róm, e dè, khi gặp các y, bác sĩ ân cần còn dám cởi mở, tâm tình vài câu còn họa vô đơn chí mà gặp những ông “lương y” lúc nào cũng quắc mắt, hoạnh họe thì hoặc là im như hến hoặc là gập mình xuống mà “vâng”, “dạ”. Cụ bà Lê Thị Tỵ, 62 tuổi ở huyện Vũ Thư, Thái Bình đưa cụ ông lên Hà Nội chữa dạ dày ở bệnh viện H vô phúc cho cụ “được” một bác sĩ mới ra trường, nhưng “thành tích” khinh người và hách dịch đã có thâm niên ngay từ khi anh được Nhà nước và nhân dân nuôi cho ăn học, nay được dịp đưa ra áp dụng để “phục vụ” nhân dân. Anh bảo bà Tỵ xì tiền ra để anh mua thuốc giùm cho thì bà ta lại sợ đắt, mua ở ngoài và bị lừa thuốc giả. Nghe anh bác sĩ trẻ tuôn ra những câu thô lỗ bà Tỵ cố kìm mà “vâng vâng” để khi khám cho cụ ông, anh nhẹ nhẹ tay hơn. Những bệnh nhân tỉnh lẻ lên Hà Nội chữa bệnh, nếu không có người quen, không thuê nhà trọ, khách sạn, thì trước khi nhập viện họ phải chịu cảnh “màn trời, chiếu đất”.
Có lẽ đã có bề dày kinh nghiệm vì bị bọn ma cô “thăm hỏi” nên chị Nguyễn Thị Hoa, ở xã Điệp Sơn, huyện Kim Môn, Hải Hưng đang nằm vật vờ ở hành lang Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, nhìn thấy tôi đang có ý ngồi xuống cạnh chị liền nhỏm dậy, tay ôm chặt bọc quần áo. Sau khi nghe tôi giới thiệu, chị mới thở phào nhẹ nhõm. Hỏi sao chị lại nằm ở đây ? Chị nói lên đây từ hôm trước để khám cái thai nó làm sao, nhưng không biết gõ cửa phòng nào trước, phòng nào sau nên lẩn quẩn đến sáng hôm nay, nhờ người chị dâu đi dò la hộ. Rồi cũng như bao người dân quê khác, chị lắc đầu than thở, rằng phận nhà quê như chị đã mang bệnh trong người lại gặp cảnh sống nháo nhác bầu không khí thị thành nên sợ lắm, hãi lắm. Nỗi sợ hãi nhất với chị vẫn là “đầu ra”. Thôi thì đủ thứ : Tiền mua hồ sơ, tiền khám bệnh, tiền mổ, tiền thuốc, tiền “bồi dưỡng” cho các bác sĩ, tiền phòng… cái “đầu ra” có thể bằng một năm, hai năm, mười năm, thậm chí cả đời họ mới làm ra được.
Vũ Đám – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Tình trạng bạo lực ở trẻ em

Theo Hiệp hội tâm lý Mỹ thì qua màn ảnh nhỏ trong một năm, trẻ em đã xem khoảng 10 nghìn cảnh bạo lực, chém giết, cướp bóc… và khi đến tuổi 18 trẻ đã có thể xem tới trên dưới 200 nghìn cảnh bạo lực 63% số phim do hãng Hollywood sản xuất có chứa các cảnh bạo lực. Qua thăm dò ý kiến, 4/5 dân Mỹ cho rằng các chương trình bạo lực trên được chiếu trên ti vi đã diễn ra gần giống các cảnh bạo lực xảy ra hằng ngày trong xã hội. tình trạng bạo lực ở nước Mỹ còn do ở nước này có những đạo luật cho phép sử dụng, mua bán và tàng trữ vũ khí. Bình quân mỗi ngày có khoảng 14 trẻ em Mỹ dưới 20 tuổi bị chết vì súng và rất nhiều thiếu niên phạm tội giết người bằng súng trong tổng số vị thành niên phạm tội giết người ở một số nước trong các năm 1986-1987. Những điều nói trên cho thấy tỷ lệ phạm tội giết người ở tuổi vị thành niên ở Mỹ rất cao so với các nước công nghiệp phát triển khác. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sự tác động xấu của các phim ảnh bạo lực đến lớp trẻ. Các nước như Thụy Điển, Anh, Nhật Bản… có tỷ lệ này thấp là do họ có những qui định chặt chẽ về phim ảnh và quảng cáo có liên quan đến bạo lực. Ở nước ta, trong thời gian qua có nhiều vụ phạm tội nguy hiểm, dã man do thanh thiếu niên gây ra có thể do nhiều nguyên nhân song chắc chắn có nguyên nhân là sự tác động xấu của phim ảnh bạo lực, đồi trụy, quảng cáo các kiểu ăn chơi, tiêu xài, cờ bạc từ các nguồn video và các hệ thống nghe nhìn khác nhau. Điều này cho thấy đã đến lúc cần có một chính sách tổng thể và các qui định chặt chẽ về việc phổ biến và nhập khẩu các loại phim ảnh có nội dung xấu, nhằm từng bước ngăn chặn và giảm bớt các tội phạm do thanh thiếu niên gây ra.
Cấp cứu đuối nước
Đuối nước thường xảy ra trong mùa mưa bão. Dù bị chìm trong nước ngọt hay nước biển, đều có hai rối loạn chính là phù phổi cách tính và thiếu o-xy máu. Vì vậy, cấp cứu ban đầu là giai đoạn quyết định của hồi sức vì toàn bộ diễn biến về sau phụ thuộc vào độ nhanh và chất lượng của cấp cứu đầu tiên. Nếu nhẹ thì rối loạn ý thức thông khí phổi hay ứ động phế quản, còn nặng thì không thở, tím tái, rối loạn ý thức từ hôn mê sâu tới trạng thái vật vã. Lúc ấy có 2 việc phải làm là thông khí phổi và xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Việc phải làm ngay lúc ấy là hô hấp nhân tạo bằng thổi miệng – miệng hoặc miệng – mũi. Người cứu hộ có kinh nghiệm thì họ làm việc này ngay dưới nước và tiếp tục không bỏ dở chừng nào thở chưa thở hồi phục.
BS Thuận Minh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Nuôi con bằng sữa mẹ

Một khi, một người phụ nữ quyết định nuôi con bằng sữa mẹ, thì việc này đã trao quyền cho phụ nữ và góp phần tạo ra sự bình đẳng nam nữ. Những điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng trẻ tốt bao gồm cả nuôi con bằng sữa mẹ còn là những điều kiện để giảm đi sự lệ thuộc của người phụ nữ – bằng cách chống lại các hình ảnh tiêu cực về người phụ nữ và sự nhấn mạnh giá trị của người phụ nữ trong việc bảo tồn nòi giống. Nuôi con bằng sữa mẹ tạo điều kiện để người phụ nữ làm chủ bản thân. Nó cũng là thách thức đối với việc “thuốc” hóa việc nuôi dưỡng trẻ em và quyền lợi của nền công nghiệp sản xuất thức ăn trẻ em. Nền công nghiệp này khuyến khích sản xuất sữa nhân tạo và cho trẻ bú chai. Tuần lễ thế giới nuôi con bằng sữa mẹ là cơ hội để thừa nhận một cách chính thức. Nuôi con bằng sữa mẹ là một vấn đề của phụ nữ. Trong suốt tuần lễ này, chúng ta hãy hành động để loại bỏ những trở ngại mà người phụ nữ phải đối đầu và chỉ ra cách làm thế nào để nuôi con bằng sữa mẹ trở thành hoạt động mạnh mẽ, có hiệu lực và trở thành sở thích của phụ nữ. Hãy để người phụ nữ tự nhận thấy rằng nuôi con bằng sữa mẹ là con đường dẫn đến khẳng định khả năng đặc biệt của chính bản thân họ. Nuôi con bằng sữa mẹ là lợi ích tốt nhất cho bà mẹ, cho trẻ em, cho từng quốc gia, cho toàn thế giới. Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên, kinh tế và phù hợp với sinh thái. Nuôi con bằng sữa mẹ là quyền lợi của phụ nữ, được bú mẹ là quyền của trẻ em.
Phim bạo lực và trẻ em
Phim ảnh và các trò giải trí qua mạng lưới vô tuyến truyền hình và video có tác động rất lớn đến sự nhận thức và hành động của thanh thiếu niên. Sự tràn lan của phim bạo lực… ở nước ta gần đây đã có những ảnh hưởng xấu và đem lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Tuy chưa có thống kê chính xác và phân tích cụ thể những vụ việc đau lòng do tác động của các loại phim bạo lực song xu hướng phạm tội của trẻ em ở tuổi vị thành niên đang gia tăng. Điều này báo động cho các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội cần sớm có biện pháp ngăn ngừa và giảm tội phạm ở lứa tuổi này. Theo thống kê của Viện hàn lâm trẻ em Mỹ trung bình hàng tuần, một trẻ em Mỹ đã xem ti vi từ 22 đến 28 giờ, tức là nhiều hơn bất kỳ một hoạt động nào khác của chúng, trừ lúc ngủ.
Trang Bình – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Lời cổ nhân dạy

Vạn vật không có gì đủ bận lòng, cho nên yên tĩnh.
Nước tĩnh thì soi sáng được râu mày, đứng được thăng bằng, thợ cả lấy đó làm thước đo.
Nước tĩnh còn sáng, huống chi là tinh thần.
(Ngoại thiên: Thiên Đạo)
Thơ châm
“Cánh đồng đêm”
Tình cánh ấy nước non này
Dẫu không Bồng đào cũng Tiên đây
Dăm cô môi đỏ mắt xanh tím
Kín kín hờ hờ dưới tán cây
Lấp ló đầu non từng đôi quấn
Phất phơ sườn núi gái trai xoay
Ai người quân tử đi đâu đó
Cảnh đấy người đây hẳn chau mày
Từ Am
(Nhại bài thơ Cảnh chùa ban đêm của Hồ Xuân Hương)
Gặp những người luyện tập
Một sáng cuối thu 95, vào lúc 6 giờ 30 phút, tôi chụp được buổi tập hàng ngày của các môn đồ “Thái cực trường sinh đạo” .
Bác Nguyễn Đình Tích trong Ban chủ nhiệm và là một trong số huấn luyện viên Câu lạc bộ “Thái cực trường sinh đạo” giới thiệu với tôi và cụ Nguyễn Song Tùng 75 tuổi, nguyên Thứ trưởng Bộ lao động, là trưởng môn phái này. May mắn được tiếp thu môn võ chân truyền quý báu, cụ Song Tùng dày công rèn luyện suốt bốn chục năm nay, từng bước suy ngẫm, viết thành bài bản về lý luận và phương pháp cho dễ hiểu và dễ nhớ trong luyện tập. Năm 1990, cụ bắt đầu công bố, phổ biến bài tập quyền “Thái cực trường sinh đạo” cho một số người tập luyện chữa bệnh.
Đến nay được 5 năm, “Thái cực trường sinh đạo” đã phát triển được trên bốn trăm môn đồ nam, nữ, phần lớn là những viên chức Nhà nước, cùng nhiều khoa học và cựu chiến binh với những độ tuổi khác nhau, người cao nhất là một cụ 98 tuổi.
Tôi gặp, hỏi chuyện được biết hiệu quả đáng phấn khởi trong việc tập luyện, chữa được một số bệnh về thần kinh, khớp xương, tiêu hóa, hệ tuần hoàn… của nhiều cụ, nhiều bác cao tuổi có, thấp tuổi có. Bác Lâm Quang Định ở Ngọc Hà trên tuổi “xưa nay hiếm” tập luyện hai năm nay đã khỏi bệnh vôi hóa cột sống. Tôi lại có dịp gặp chị Ngọc Bích (đồng đội và đồng nghiệp xưa ở đơn vị cũ) ngay tại nơi luyện tập lý tưởng này. Năm trước tôi ở miền Nam được tin chị Bích bị rối loạn tiền đình và suy nhược thần kinh tương đối nặng.
D.A (chép lại)- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995

Truyện vui ở trung quốc

Bác sĩ, xin hãy cho tôi lời khuyên. Vợ tôi không còn chung thủy với tôi nữa. Nhưng khi tôi bắt đầu nổi giận thì cô ấy nói: “Anh bình tĩnh nào và uống cà phê đi.”
Tôi có thể khuyên anh điều gì nào?!
Chỉ một điều thôi: uống cà phê nhiều như thế có hại cho tôi không?
Ở Trung Quốc
1 – Chè Long Tỉnh: tên một địa phương vừa là tên một con suối ở khu Tây Hồ (Hàng Châu, Chiết Giang), Chè Long Tỉnh cao cấp, khi pha có hình dáng nở như bông hoa lan, ánh mầu ngọc bích, tỏa hương nồng đậm.
2 – Chè Bích La Xuân: trồng ở vùng núi Đông Đình, bên bờ Thái Hồ (Giang Tô) uống có hương thơm nhẹ và nhiều dư vị.
3 – Chè Thiết Quan Am: vị ngọt tự nhiên, hương thơm tinh tế. Chè được sản xuất ở An Khê (Phúc Kiến). Cánh chè rất săn có mầu lục sẫm nên gọi là thiết. Thiết Quang Am là một trong những loại chè quý.
4 – Chè Đền Lục: trồng ở các huyện Đền Khê, Hữu Ninh, Ninh Quốc, Tích Khê.. (An Huy). Hương vị đậm dịu, ánh , xanh biếc, có đủ ba tố chất: sắc, hương, vị.
5 – Chè Bạch Hào – Ngâu Châm: trồng ở Tùng Khê, Kiến Dương (Phúc Kiến). Chè nổi tiếng khắp vùng. Cánh chè dài, mảnh và nhọn như mũi kim, ánh mầu bạc.
6 – Chè Phố Nhi: có tên như vậy là vì nhìn đep mắt, pha nhiều lần vẫn được nước. Chè có tác dụng kích thích tiêu hóa.
7 – Chè Vũ Nham: ở mũi Vũ Di (Phúc Kiến), được liệt vào loại chè quý trong nhóm chè Ô Long (cùng với chè Thiết Quan Am) có vị đậm ngọt đầy hấp dẫn.
8 – Chè Hồng Kỳ: tức Hồng Trà sản xuất ở huyện Kỳ Môn, được xếp ngang cũng chè Đồn Lục, hai đặc sản của An Huy. Pha nước có mầu hồng lục thoảng hương vị của hoa ban, được mệnh danh là Hồng Trà Kỳ Môn hoa lan hương.
9 – Chè Điền Hồng: cũng có mầu hồng khi pha. Cánh chè khô mầu thẫm, khi pha. Cánh chè khô mầu thẫm, khi pha lại có màu hồng (Điền có tên cổ của Vân Nam)
10 – Chè Hoa Nhài: Là loại chè xanh, uống có hương vị hoa nhài. Hương thơm mát dịu thoang thoảng, nhưng đọng lại rất lâu ở lưỡi.
Lời cổ nhân
Trang Tử
1. Không lấy người mà hại trời.
Không lấy cớ vì ý riêng mà hại mệnh.
Không lấy cái được mà giết cái danh.
(Ngoại thiên: Thu Thủy)
Xuân Mai (Theo báo “cá sấu” số 10-1995)- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995