Bài tập cho người sau khi sinh

Cho đến ngày 30 – 09 – 1995, ở Khánh Hòa đã có 278 người HIV (+) và 67 người tử vong nghi do AIDS vì mắc các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội. Phần lớn những người nhiễm HIV/AIDS (+) là đối tượng nghiện chích ma túy, hiện đang sống ở các trại cộng đồng. Nhiều đối tượng chưa được xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV. Nhận thức của người dân về phòng chống nhiễm HIV/AIDS còn hạn chế. Kết quả điều tra cho thấy việc tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu, công tác quản lý các dịch vụ y tế tư nhân trong việc vô khuẩn, tiệt khuẩn các dụng cụ y tế chưa chặt chẽ. Qua đó, UBPC AIDS Khánh Hòa đã kiến nghị : nên có chế độ, chính sách cho cán bộ trực tiếp tiếp xúc với người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS. UBPC AIDS quốc gia cần sớm thống nhất tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng AIDS và dịch thể AIDS, đồng thời sớm thống nhất phác đồ điều trị bằng AZT, trang bị các thiết bị truyền máu, nên thường xuyên có thông tin kịp thời các bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm HIV/AIDS
(Chống HIV/AIDS ở Khánh Hòa)
Dưới đây là các bài tập dành cho phụ nữ sau khi sinh.
Nằm ngửa, co tay lại, chân duỗi thẳng. Tỳ trên khuỷu tay nâng lồng ngực lên – hít vào. Trở về tư thế ban đầu thở ra, thả lỏng toàn bộ cơ thể. Lặp lại ba – bốn lần.
Nằm ngửa, co tay lại, co gối lên. Tỳ trên bàn chân, khuỷu tay và bả vai. Nâng hông lên – hít thở. Trở về tư thế ban đầu – thở ra, lặp lại hai – ba lần.
Nằm nghiêng bên phải, hai tay dọc thân mình, chân duỗi thẳng. Gặp chân trái lại, tay trái ép gối vào bụng – thở ra. Trở về tư thế ban đầu – hít vào. Lặp lại ba – bốn lần, làm như vậy nghiêng bên trái.
Nằm ngửa, hai tay khép sát thân, chân duỗi thẳng hít sau vào. Thở ra – nâng chân phải lên, hít vào – hạ chân xuống. Lặp lại bốn – sáu lần. Làm như vậy với chân trái.
Nằm sấp, hai tay giữ hai bên, chân duổi thẳng. Nâng chân phải lên, hạ xuống. Nâng chân trái lên hạ xuống. Nâng cả hai chân lên, hạ xuống. Thở đều, lặp lại ba – bốn lần.
Tỳ trên gối và hai tay. Nâng thẳng chân phải ra sau lên cao – hít vào. Co gót lại hướng về phía bụng – thở ra. Trở về tư thế ban đầu. Lặp lại ba – bốn lần. Làm như trên với chân trái.
Một tay bên vịnh thành ghế. Nâng một chân về phía trước sang bên ra sau, thở đều. Lặp lại bốn – sáu lần cũng làm như vậy phía bên kia.
Nằm ngửa, tay dọc thân, chân duỗi thẳng. Hai tay nâng lên cao đưa lên đầu, căng người – hít vào hạ tay xuống, thả lỏng – thở ra. Lặp lại ba – bốn lần.
Các bài tập thật đơn giản, chỉ cần bạn cố gắng làm là bạn có được thân hình đẹp cân đối.
Mai Hương – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – 1995

Nghiên cứu triệt sản bằng quinacrin

BS Trần Trung Chiến, Thứ trưởng Bộ y tế chủ trì hội nghị. Hội nghị đã được nghe các báo cáo: Tổng quát về nghiên cứu quinacrin trên thế giới; Kết quả nghiên cứu hồi cứu những người sử dụng quinacrin gây tắc ống dẫn trứng tại 3 tỉnh: Nam Hà, Hải Hưng, Thái Bình; Tác dụng phụ của quinacrin; Nghiên cứu về độc chất học; Ý kiến của 4 phụ nữ đã triệt sản bằng quinacrin và nhiều tham luận của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực tâm lí học, dân số học, xã hội học ở trong nước và quốc tế.
Quinacrin là một loại thuốc đã được sử dụng từ lâu đời để điều trị bệnh sốt rét, nhất là trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lợi dụng tính chất gây dính các tổ chức của quinacrin để gây tắc ống dẫn trứng trong triệt sản nữ. Ngay từ những năm 1970 – 1980, quinacrin đã được dùng như một phương pháp triệt sản nữ không phải mổ và đã được dùng ở nhiều nước nhất là các nước đang phát triển. Ở nước ta, năm 1989, Bộ y tế đã cho tiến hành thử nghiệm lâm sàng sử dụng quinacrin trong triệt sản nữ ở hai tỉnh: Nam Hà và Hải Hưng, mỗi nơi 100 người. Sau khi thực nghiệm có kết quả kỹ thuật này đã được triển khai ở hai tỉnh nói trên; và đến tháng 10 – 1993 đã có 24 tỉnh thực hiện với 32.000 phụ nữ.
Tỷ lệ chửa ngoài dạ non cũng ít hơn.
So sánh cùng thời gian từ tháng 1 – 1993 đến 1 – 1994, trong tổng số tổng 1680 người triệt sản bằng quinacrin có 15% thất bại ( có thai) còn 1512 người đặt vòng có 18% thất bại.
Trên 90% chị em sử dụng quinacrin triệt sản là tự nguyện không có sự ép buộc; đa số những người sử dụng phương pháp này nói là muốn được sử dụng sớm hơn.
Tuy vậy phương pháp triệt sản nữ bằng quinacrin cũng còn những tác dụng phụ như: gây mệt mỏi, đau đầu, sốt, tăng hay giảm cân nặng… Do đó cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, lâu hơn về phương pháp này. Một khi đã chứng minh được tính an toàn cao, giảm được tác dụng phụ thì có thể coi việc đặt quinacrin là một trong những biện pháp tránh thai
Hà Nội thành lập trung tâm phòng chống lao
Theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, ngày 4-3-1995 Trung tâm chống lao thành phố đã được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trạm chống lao thành phố và đơn nguyên lao thuộc Bệnh viện Hai Bà Trưng. BS Nguyễn Khắc Bạt – nguyên Trạm trưởng Trạm chống lao Hà Nội được cử làm giám đốc trung tâm.
Kim Hiệu- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995

Cây thanh hao hoa vàng

Cần phân biệt cây thanh hao (rau hao) với cây thanh cao hoa vàng hiện nay dùng chế thuốc chữa sốt rét cơn. Cây rau hao có tên khoa học là Artemisia apiacea Hance (A.carvifolia Wall). Họ cúc (Asteraceae). Là loại cỏ sống 2 năm, cao 0,40-1,5m, thân phân nhiều cành mảnh. Lá dọc so le, xẻ lông chim nhiều lần thành phiến hẹp, cụm hoa hình đầu, màu xanh xám mọc trên cành thành chuôi dài. Quả hình trứng ngược, nhẵn. toàn cây có tinh dầu thơm, mọc hoang ở miền núi, trung du, đồng bằng, bờ biển. Ngọn là có thể luộc ăn, nhưng vị đắng, hắc, cây này từ xưa được dùng làm thuốc, mà ít dùng cây thanh cao hoa vàng. Công dụng: theo y học cổ truyền nói thanh hao vị đắng, tính hàn có tác dụng bổ hư lao, thanh nhiệt, khỏi nóng âm, chữa sốt rét cơn, giải cảm, lợi tiểu, thông khí trệ, dùng 8-20g sắc uống.
Nói chuyện sức khỏe
Lâu nay xã hội thường quan tâm đến sức khỏe bà mẹ trẻ em, những người tàn tật, sức khỏe người cao tuổi… mà ít đề cập tới sức khỏe ở lứa tuổi trung niên (trên dưới 40 tuổi). Đây là lứa tuổi tinh lực dồi dào, kinh nghiệm phong phú, là tuổi tốt nhất trong đời để lập nên sự nghiệp. Song, đó cũng là thời kỳ trong người bắt đầu biến đổi, bắt đầu từ thịnh chuyển sang suy, là thời kỳ hướng tới tuổi già (sự tinh nhanh giảm sút, tóc bắt đầu bạc). Đó là biểu hiện bề ngoài của sự bắt đầu biến đổi sinh lý. Chu Đan Khê (Trung Quốc) đã từng nhấn mạnh ở người đứng tuổi cần phải nuôi dưỡng bằng nguồn vui, ít dục vọng để hội tụ được âm tinh, không được làm cho tướng hỏa xao động làm nhanh lão hóa. Ông đã đề xướng ăn nhạt, ăn có chừng mực, phản đối tham ăn những chất ngon. Ông cho rằng: “gạo, rau, hoa quả sẽ làm hài hòa, ăn nó sẽ bổ âm”, chủ trương của ông là ăn uống điều độ, bảo đảm âm khí để sống lâu. Ta biết rằng, sau tuổi trung niên, dễ mắc bệnh huyết áp, mạch máu não hay xảy ra bất trắc, các bệnh về tim, đái đường…là điều do âm dương trong người không cân bằng. Đời người bình thường đều trải qua các giai đoạn: thiếu niên, thành niên và già. Đó là các quá trình sinh-trưởng-thịnh-suy. Sau tuổi 40 bắt đầu phát triễn sang phía suy lão. Đó là quy luật chung của tạo hóa. Nhưng có thể bằng phương pháp dưỡng sinh chính xác để kéo dài các quá trình này. Đặc điểm của tuổi này là thích tĩnh, hoạt động giảm dần, đặc biệt họ lao động trí óc. Thích ăn ngon mà năng lượng tiêu hao thì giảm dễ béo, béo ở tuổi này rất có hại. Bề ngoài trông có vẻ dư thừa, nhưng bên trong thì khí không đủ, dễ tụ huyết làm sinh ra nhiều bệnh: chóng mặt, trúng phong, tê ngực, tiêu khát… Để phòng béo, giảm béo ngoài việc tập luyện thích đáng ra thì sự khống chế ăn uống là phương pháp tốt nhất.
Nguyễn Thi Nhinh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Nghiên cứu lâm sàng châm cứu

Với phương châm kế thừa, phát huy phát triển nền y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong những năm qua ngành y tế Việt Nam đã xây dựng mạng lưới tổ chức đào tạo cán bộ cho hệ thống y học cổ truyền. trong lĩnh vực châm cứu chúng ta đã điều trị nhiều loại bệnh đạt kết quả như: đâu đầu, đau lưng, liệt thần kinh VII, ngoại biên, điếc câm, các dị chứng liệt do tai biến mạch máu não, viêm não và chấn thương. Châm cứu còn điều trị các chứng đau và thực hiện trên 60 loại mổ bằng châm gay tê kết quả là 98%. Các kỹ thuật châm cứu điện châm, nhĩ châm, quang châm, thủy châm, trường châm, đại châm đã được áp dụng rộng rãi. Một số chuyên gia châm cứu của Việt Nam đã đi giảng dạy, khám chữa bệnh bằng châm cứu ở một số nước trên thế giới được giới y học hoan nghênh và đánh giá cao. Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu đánh giá hiệu quả của châm cứu trong lâm sàng chưa được thống nhất đồng thời, Việt Nam muốn đẩy mạnh hiện đại hóa châm cứu trong chẩn đoán và điều trị với những phương tiện và phương pháp của khoa học hiện đại. Do vậy ngày 19 – 20-10-1995 Bộ y tế, Viện châm cứu Việt Nam với sự tài trợ của tổ chức y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương đã tổ chức hội thảo “phương pháp nghiên cứu lấm sàng châm cứu” tại Hà Nội. PGS. PTS Lê Văn Truyền thứ trưởng Bộ y tế, tiến sĩ Giuseppe G Cubôni giám đốc WHO tại Hà Nội, giáo sư Jean Bossy chuyên viên của tổ chức WHO cùng hơn 50 đại biểu là các giáo sư, bác sĩ của Viện y học cổ truyền Việt Nam, Viện châm cứu Việt Nam, Viện 103, Trường đại học y khoa Hà Nội, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền và các ban ngành có liên quan đã tới dự. Mục đích của Hội Thảo là cùng trao đổi phương pháp nghiên cứu khoa học về châm cứu trên cơ sở do kiến nghị với Bộ y tế ban hành một số quy chế nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâm sàng của châm cứu, xác định tính khoa học, hiệu quả điều trị bằng châm cứu. Từng bước phổ cập ứng dụng châm cứu trong các cơ sở điều trị, cải tiến, nâng cao chất lượng và hiện đại hóa châm cứu Việt Nam.
Cứu em bé 3 tuổi
Viện quân y 121 vừa phẫu thuật thành công 1 ca mổ hiếm thấy lấy ra 1 cây móc tai dài 7 phân trong bụng 1 bé trai 3 tuổi. Nạn nhân là bé Nguyễn Cao Cường ở ấp Thạnh Phú, xã Thạch Hòa, huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ. Sáng 2-10 trong lúc cha mẹ vắng nhà, bé Cường chơi với chị 6 tuổi, thấy chị đang móc tai Cường đòi cầm chơi, rồi cho vào miệng ngậm và bị hóc trong tư thế đang nằm chơi. Ngày 5-10, viện quân y tiếp nhận bé trong tình trạng móc tai đã đâm dính thành đáy tá tràng có nguy cơ thủng ra phía lá gan và túi mật. Sau chẩn đoán, ê kíp bác sĩ tiến hành mổ để cứu bé. Sau khi lấy dị vật ra sức khỏe bé đang trong tình trạng ổn định.
Trần Khánh Linh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Thu một phần viện phí

Ngày 25 tháng 10 Bộ y tế đã tổ chức họp báo để thông báo triển khai thực hiện Thông tư liên bộ Y tế – Tài chính – Thương binh và xã hội và Ban vật giá chính phủ số 14/TTLB, ngày 30-9-1995 thay Thông tư số 20/TTLB hướng dẫn thực hiện thu một phần viện phí. Nghi định 95/CP ngày 27-8-1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí nhằm mục đích huy động sự đóng góp của những người và gia đình có thu nhập khá. Miễn thu viện phí cho người thuộc diện chính sách xã hội và người nghèo theo quan điểm của nghị quyết T.Ư IV “Phấn đấu để mọi người được chăm sóc sức khỏe một cách công bằng”. Sau hơn 9 tháng thực hiện thu một phần viện phí ở 19 bệnh viện T.Ư, 2 bệnh viện ngành và 31 bệnh viện tỉnh, thành đã thực hiện rõ quyền lợi của người bệnh được đảm bảo hơn. Kinh phí do thu một phần viện phí đã có tác dụng hỗ trợ cho trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh tốt hơn. Mặt khác việc thu một phần viện phí theo thông tư 20/TTLB cũng bộc lộ một số tồn tại lớn như cách thu bình quân theo loại bệnh, không tính chi phí thực tế cho từng bệnh nhân khác nhau; bệnh viện thực hiện thu viện phí nhưng ngành lao động thương binh xã hội chưa kịp cấp thẻ, số miễn phí cho người nghèo khó khăn gây ra những thắc mắc hiểu lầm cho những người nghèo khi ốm đau đi khám, chữa bệnh. Để sửa lại những tồn tại trong thông tư trước đây, Thông tư 14/TTLB đã quy định tính một phần viện phí theo sự tiêu tốn của người bệnh, cụ thể: Đối với bệnh nhân ngoại trú tính theo chi phí thực tế của lần khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú thu thành 2 khoản riêng: tiền giường ngày điều trị, tiền thực chi cho người bệnh về thuốc, xét nghiệm, dịch truyền, máu, X quang… Ngoài ra, thông tư cũng ghi rõ người bệnh nặng chi phí quá trần quy định mà không đủ khả năng đóng góp thì Nhà nước hỗ trợ. Về quản lý và sử dụng số tiền do thu một phần viện phí của người bệnh, Nghị định 95/CP đã nói rõ số tiền do thu một phần viện phí là nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Trong đó 70% là bổ sung kinh phí mua thuốc, máu, dịch truyền… để phục vụ người bệnh; 30% dùng để khen thưởng cho cán bộ nhân viên y tế có tinh thần trách nhiệm, làm tốt nhiệm vụ, đảm bảo công bằng nhưng không cao bằng. Trong năm 1995 này triển khai việc thu một phần viện phí tới tất cả các cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước.
P.V – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Để đôi tay được thư duỗi

Những bài tập sau đây có tác dụng kéo dài cánh tay, làm mềm mại đôi vai và cổ tay:
Động tác 1: Bạn có thể đứng hoặc ngồi, một tay đưa thẳng về phía trước, bàn tay úp xuống. Hãy dùng tay kia kéo bàn tay này gập xuống, thở đều đặn, bạn cứ làm được 5 lần thì đổi tay.
Động tác 2: Hãy đứng ưỡn ngực ra phía trước, hai bàn tay nắm bắt chéo sau lưng. Vừa hít thở, bạn vừa cố gắng nâng hai tay lên cao nhất có thể được nhưng chú ý đường cong tay. Cứ làm như vậy 10 lần.
Động tác 3: Đứng hay ngồi tùy bạn, nắm hai tay vào một chiếc gậy được đặt phía sau vai, nhớ là hai bàn tay phải ngửa lên. Tiếp đó, bạn làm cho chiếc gậy lăn trên hai bả vai, hạ xuống thì thở ra. Làm 10 lần. Cách tập tay đơn giản nhưng rất hiệu quả, giúp cho tay bạn thêm mềm mại mà vẫn khỏe và không dễ bị mỏi sau khi làm việc. Đối với những bạn chơi một môn thể thao đòi hỏi hoạt động của đôi tay thì rất nên tập bài này thường xuyên.
Đồng nai: phú an không sinh con thứ 3
Phú An là xã miền núi thuộc huyện Tân Phú và là xã đầu tiên ở tỉnh Đồng Nai không có người sinh con thứ 3. Toàn xã có 580 hộ gia đình, gồm nhiều dân tộc trình độ dân trí thấp, 30% số dân theo đạo thiên chúa. Mức sống chung của người dân là nghèo,tỷ lệ tăng dân số hằng năm cao. Từ năm 1993 đến nay, khi các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền quyết tâm thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình trong nhân dân, thì phong trào quần chúng tham gia hưởng ứng khá đông đảo. Đảng viên gương mẫu trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, các gia đình đăng ký không sinh con thứ 3. Năm 1994, toàn xã có 200 người thực hiện kế hoạch hóa gia đình, trong đó có 100 người đình sản. Các biện pháp tránh thai đều an toàn gây được lòng tin trong quần chúng nhân dân. Do thực hiện tốt các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, nên đến nay, toàn xã không có người sinh con thứ 3. Tỷ lệ sinh giảm từ 2% xuống còn 1,7%. Một số gia đình trước đây đông con, đẻ dày, đời sống khó khăn, nay sinh ít con, các cháu được nuôi dạy tốt, được học hành. Các cặp vợ chồng thực hiện sinh đẻ có kế hoạch được cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe thường xuyên. Bộ mặt văn hóa đời sống ở Phú An đang dần đổi khác. Bệnh sốt rét trước khá phổ biến trong dân nay đã được đẩy lùi. Đảng bộ xã Phú An cho rằng phải duy trì liên tục mục tiêu: các gia đình không sinh con thứ 3 thì Phú An mới có điều kiện cải thiện đời sống kinh tế – văn hóa cho đồng bào ở đây.
Quang Vinh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Có thật đã có thuốc làm người già trẻ lại?

Năm 1990, người ta đã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của HGH lên bệnh loãng xương và bệnh khí thũng, sử dụng HGH như chất phụ trợ chữa bệnh AIDS. Các nhóm nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia đã thử nghiệm bổ sung HGH cho cơ thể bệnh nhân bạch cầu hay tế bào T4, vốn là mục tiêu tấn công của HIV. Từ kết quả của nghiên cứu, người ta thấy HGH đóng vai trò quan trọng trong việc hồi sinh các xương đã già yếu theo tuổi tác. HGH thường tiết ra 2 axit amin tự nhiên là arginin và lysin kích thích cơ thể tự sản xuất ra thêm HGH.
Tuy nhiên, phương pháp này đang ở giai đoạn thực nghiệm trên động vật, phải có thời gian để kiểm chứng. Hiệu quả của hoocmon chỉ là tạm thời. Sau khi ngừng tiêm, những lớp cơ săn chắc lại mềm nhũn. Nhiều nghiên cứu còn cho hay loại hoocmon này có thể gây ra các phản ứng phụ như: giữ nước, hội chứng đau xương tay do sự co thắt dây thần kinh, gây bệnh đái tháo đường nếu tiêm HGH quá mức, hoặc phù nề. Năm 1988, các nhà nghiên cứu ở Nhật còn cho thấy khi tiêm hoocmon tăng trưởng, trẻ em có nguy cơ bị bệnh máu trắng.
Các bậc cha mẹ cần biết: Khi con đến tuổi dậy thì!
Tuổi dậy thì được quan niệm như bước quá độ để đứa trẻ trở thành người lớn, là thời điểm “ương chín về thể chất, hé nụ về tinh thần” cho cả hai giới.
Người lớn nói chung và cha mẹ nói riêng có tiếp cận với giới trẻ ở tuổi dậy thì này thì mới thấy nhiều khía cạnh khiến ta phải suy ngẫm: những gì mà trẻ đang vướng mắc, những gì là tốt đẹp khi trẻ sắp bước vào ngưỡng cửa cuộc đời.
Theo quy luật phát triển, do những biến đổi quan trọng về sinh lý thể chất, tuổi dậy thì đang đi vào bước ngoặt đột biến về tâm lý, ý thức. Với tính cách ở độ tuổi này, nhà tâm lý học nổi tiếng D. Wesler ví họ như “một con ngựa chướng”, khó vâng lời và nhiều khi kỳ cục nữa.
Chướng khí và bướng bỉnh, đó là nét đặc trưng về tính cách trong giai đoạn dậy thì của cả con trai và con gái. Biểu hiện nét tâm lý này thường là có khi ngấm ngầm, có lúc biểu thị công khai, thậm chí đến mức dữ dội nữa. Sự không bình thường này hay biểu lộ các khía cạnh là ở chỗ sự suy nghĩ của họ thường bồng bột nhưng lại ưu tự đắc, nói năng không kiềm chế nhưng lại ưa lý sự, hành động thiếu tỉnh táo nhưng lại ưa mạo hiểm, khiến các bậc cha mẹ phải khổ tâm, mệt trí chỉ vì lo lắng cho con cái.
Hải Ngân (Theo Longevity) – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Kỹ thuật thụ tinh mới

Vừa qua, có hai vợ chồng người nước ngoài bị vô sinh, đã được chuyên gia y tế Hồng Kông áp dụng thành công kỹ thuật thụ tinh mới: Kỹ thuật đưa tinh trùng vào dịch tế bào (gọi tắt là ICSI). Họ đã sinh được một bé trai khỏe mạnh. Đây là niềm vui lớn cho những cặp vợ chồng vô sinh. Cháu bé ra đời nặng 3,8kg. Bố mẹ cháu lấy nhau đã 5 năm và đã tìm mọi cách nhưng đều không kết quả, bởi lẽ bố cháu có tinh trùng quá ít. Giáo sư Hà Bá Tùng, người phụ trách tổ sản Bệnh viện sản Mary (Hồng Kông) cho hay: “Phương pháp đưa tinh trùng và dịch tế bào là trực tiếp tiêm một tinh trùng vào một trứng. Điều này khác hẳn việc thụ tinh trong ống nghiệm trước đây bằng cách cho hàng triều tinh trùng cung tấn công để trứng thụ tinh”. Hà Bá Tùng còn cho hay: “Từ năm ngoái, Hồng Kông đã sử dụng phương pháp mới này để chữa cho 40 cặp vợ chồng, trong đó có 5 ca thành công, tỷ lệ đạt 12%. Mặc dù thấp hơn các loại thụ tinh ngoài dạ con khác (25%), nhưng ông tin rằng tỷ lệ thành công sẽ còn cao hơn nữa. Đây là ca thứ hai thụ tinh bằng phương pháp mới đã thành công kể từ sau ca thứ nhất thành công tại Bỉ năm 1992.
Với căn bệnh ung thư
Theo thông báo ở cuộc họp chuyên đề về bệnh ung thư tại Học viện quân y ngày 5-9-1991, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu thành công một loại thuốc chữa ung thư lấy từ hoạt chất của các cây Taxus thuộc họ Taxaceae (Thông đỏ). Trong 5 loại được dùng, ở nước ta có 3 loại sâu đây:
-Taxus Walllichiana Zucc có mọc ở Nha Trang, Đà Lạt và miền Nam Trung Bộ. Là một cây gỗ thường xanh, cao tới 20m, nhánh non mảnh màu lục. Lá hình chữ S lưỡi liềm, dài 2.5-4cm, rộng 2-4mm, gốc hẹp mũi nhọn, mặt trên lõm hình lòng thuyền, mặt dưới có hai dãy lỗ khí. Nón hoa mọc đơn ở nách lá. Quả hình chén nạc, trong chứa một hạt hình trứng. Hạt có áo hạt màu đỏ bao chung quanh, để hở đầu hạt.
-Taxus chinensis Rehd, có mọc ở Pa Cô, Hòa Bình. Cây thông đỏ này cũng tương tự như cây trên. Riêng nón hoa không đơn độc.
-Taxus baccata có mọc ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Cây này cũng như các cây trên, mọc ở độ cao 1000-2000 m, thâu vỏ nâu, gỗ đỏ, cành xòe rộng, nón hoa đơn tính, lá rậm xanh thẫm. Cây mọc tốt ở vùng núi đá vôi, có thể trồng bằng cách cằm cành. Ta nên bảo vệ những cây thông đỏ hiện có là nguồn dược liệu quý giá. Ngành lâm nghiệp nên có chủ trương cấm khai thác những cây này để làm gỗ và nên phát triển gây trồng thành rừng thuần loại. Về y tế, chúng ta nên lưu ý nghiên cứu vị thuốc này.
D.N – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Chuyện thật như đùa

Chết vì hôn
Nếu biết hôn mà chết thì chắc chắn trên thế giới này chẳng ai dám hôn, dù có yêu nhau đến mấy rồi cũng phải chia tay. Thế nhưng chuyện hôn đến chết người thì đã xảy ra mà cả toàn cầu không mấy ai nghĩ tới.
Lâu nay, qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã nêu lên hôn có thể làm lây truyền bệnh cúm, nếu một trong hai người mắc bệnh đó. Người ta cũng nói nhiều về khả năng lây bệnh loét dạ dày qua nụ hôn. Nếu người chồng mắc bệnh loét dạ dày thì cùng với thời gian, người vợ sẽ mắc bệnh đó và ngược lại vì một trong những thủ phạm chính gây ra viêm loét dạ dày – tá tràng là vi khuẩn Helicobacter pylori. Một nhà khoa học Ô-xtrây-li-a đã thử nghiệm ăn loại vi khuẩn đó và kết quả là ông đã bị viêm dạ dày đa toan và cuối cùng là loét dạ dày.
Đấy chỉ là sự lây bệnh qua nụ hôn, chứ chuyện chết do hôn thì quả là điều không ngờ, ngoài sức tưởng tượng. Song chuyện khó tin như đùa ấy lại là chuyện thật. Cô Daniella Du Pere (Pháp) trong bốn năm đã yêu và hôn bảy người thì cả bảy người đều chết rất nhanh sau hôn. 59 tuổi (1989) Daniella yêu Bernard Largente. Đây là lần đầu tiên cô yêu và được hôn. Nhưng lạ thay, sau hôn đột nhiên Bernard cảm thấy đau đớn, tái xanh mặt, chạy ra ngoài và ngã gục tại cầu thang. Daniella chạy theo, thấy vậy liền đưa anh tới bệnh viện nhưng anh đã không qua khỏi. Daniella rất đỗi đau buồn, 3 năm sau, cô lần lượt yêu 5 người và cả 5 người ấy đều chết sau mỗi lần hôn cô. Tới tháng 6-1993, Daniella vinh dự được chọn làm người tặng hoa cho người về nhất cuộc đua xe đạp của Pháp. Từ may hóa rủi, vận động viên xấu số này cũng chết rất nhanh sau khi nhận hoa và hôn cô. Thế là 7 người đã nhanh chóng lìa đời chỉ vì một lí do đơn giản là thế.
Cho đến bây giờ, các nhà khoa học vẫn chưa khám phá được bí mật về nụ hôn gây chết người. Bác sĩ Paul Rene Delahousey ở Paris đưa ra giả thiết: có thể trong nước bọt và hơi thở của Daniella có chất xy-a-nit. Bằng chứng là tất cả những người chết đều có dấu hiệu ngộ độc của chất này: sau khi hôn lập tức bị hoa mắt, co giật rồi chết do suy hô hấp trong vài giờ.
Cũng may trường hợp hôn gây chết người như Daniella mới chỉ có một chứ chưa chắc sẽ có hai trên thế giới. Điều đó làm yên lòng mọi người, và chắc là chẳng gây được nỗi hải hùng cho bất cứ ai.
B.S Thuận Minh- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995