Rò rỉ nước tiểu sau đẻ, vì sao ?

Thường là sau những cuộc đẻ có can thiệp : hoặc mổ hoặc phoóc-xép, hút, nội xoay, cắt rộng âm môn (épisiotomie). Vì sao ? Trước hết, phải loại trừ nguyên nhân “tiểu tiện không tự chủ”, tiểu vội vàng, khó nín, …nhưng vẫn tiểu thành bãi mặc dù tiểu đêm hoặc ngày khá nhiều lần, và không có liên quan đến sinh đẻ.
Trường hợp nói ở đây là rò rỉ nước tiểu gần như thường xuyên, khổ lắm!
Trên thực tế lâm sàng thường có các nguyên nhân hay tổn thương chính sau đây :
Do thần kinh, gây rối loạn hoạt động của cơ tròn, đóng mở bàng quang, sa thành trước âm đạo. Nếu điều trị nội khoa theo phương pháp kinh điển không đỡ – hoặc sa nặng quá, độ 3 – độ 4 thì phải mổ. Ngoài các thao tác mổ trong phẫu thuật phụ khoa thì phải nâng cao thành sau của bàng quang lên.
Do rò bàng quang – âm đạo hay gặp nhất, chẩn đoán thường dễ nếu lỗ rò ở thấp và to – Có lỗ rò có thể đút vừa quả trứng vịt vào bàng quang qua đường âm đạo – Vì thành sau bàng quang và thành trước âm đạo bị hoại tử rộng quá! Nếu rỏ thì đôi khi có thể tiểu thành bãi qua lỗ đái. Và khi thăm khám thì khó có thể sờ thấy lỗ rò, phải bơm thuốc xanh mêthylen vào bàng quang rồi quan sát nhờ mỏ vịt đặt vào âm đạo. Nếu rò vừa hoặc to, vừa đút ngón tay vào thì dễ phát hiện. Chỉ cần thăm vào âm đạo là thấy rồi.
Còn nếu rò quá to như nói trên, thì không cần phải nói, bao nhiêu nước tiểu đều qua lỗ rò, dầm dề suốt ngày đêm. Nhất thiết phải mổ, là loại mổ rất khó thành công, mặc dù nhiều tác giả đã tìm nhiều cách cải tiến.
Rò bàng quang – âm đạo thường xảy ra sau những can thiệp lớn như mổ, đẻ, … nên người ta thường nghĩ oan cho bác sĩ phẫu thuật. Thực tế là do đầu thai nhi đã lọt xuống tiểu khung rồi nhưng dừng lại quá lâu. Nó đè ép thành trước âm đạo và bàng quang vào mặt sau xương mu làm cho âm đạo và bàng quang thiếu máu nuôi dưỡng, bị hoại tử và thông thương với nhau. Vì vậy, gây ra rò nước tiểu từ bàng quang xuống âm đạo mà không chịu sự khống chế của cơ tròn nơi cổ bàng quang.
Rò bàng quang – tử cung : nghĩa là có sự thông thương giũa bàng quang và tử cung. Nước tiểu trong bàng quang 1 phần thải qua lỗ đái và đái thành bãi tự nhiên – 1 phần chảy qua tử cung rồi thoát xuống âm đạo qua lỗ tử cung. Trường hợp rò này có 1 dấu hiệu rất đặc biệt gọi là dấu hiệu YOUSSEF : hàng tháng trong mấy ngày hành kinh thì tiểu ra máu, vì máu kinh từ tử cung chạy qua bàng quang và đi ra ngoài. Nếu không có dấu hiệu này thì rất khó phát hiện bằng việc khám sờ bằng tay không vào âm đạo. Phải soi bàng quang hoặc vừa bơm thuốc xanh méthylen vào cổ tử cung và soi bàng quang ngay cùng lúc bơm.
Rò niệu quản – âm đạo : Niệu quản là một uống nhỏ bằng đầu đũa, dài khoảng 20 cm, dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Do cơ chế chèn ép của đầu thai nhi nói trên, đoạn niệu quản dưới cùng cũng có thể bị chèn ép vào 1 điểm ở sát âm đạo, cùng bị hoại tử và gây ra lỗ rò thông thương với nhau. Nước tiểu không đổ vào bàng quang mà đổ vào âm đạo nên rò liên miên. Cũng may là thường chỉ rò 1 bên. Niệu quản bên lành vẫn đổ vào bàng quang. Vì vậy, dấu hiệu nổi bật nhất của rò niệu quản – âm đạo là :
Rò rỉ nước tiểu liên miên nhưng vẫn có những bãi đái bình thường.
Rất khó phát hiện bằng thăm khám bình thường.
Phải chụp phim thận thuốc mới (VIV) hoặc soi bàng quang mới có thể xác định được chính xác bên nào để mổ cho đúng chỗ đúng bên.
Rò do tổn thương phần ngoài niệu đạo : Loại này thường do chuyên môn gây nên, khi cắt rộng âm môn để đầu sổ ra cho nhanh. Có khi cắt chạm vào niệu đạo. Chẩn đoán dễ vì dễ nhìn thấy. Mổ nói chung là không khó bằng các loại rò trên.
Tóm lại, các loại rò rỉ nước tiểu nói trên, nhất là rò rỉ bàng quang – âm đạo, rò bàng quang – tử cung, rò niệu quản – âm đạo là do các tổn thương thực tế hoàn toàn khác nhau. Người bệnh phải đến bệnh viện sớm, tốt nhất là đến chuyên khoa tiết niệu, để có điều kiện chẩn đoán và mổ xẻ chính xác được. Mong chị em chú ý, không e dè nấn ná, để càng lâu bệnh càng nặng, mổ càng khó, hai quả thận sẽ dễ bị suy yếu.
BS Nguyễn Bá Phiên – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998