Khởi sắc Thanh Sơn (Phần 1)

Vĩnh Phú, Công ty Py rít là một công ty khá nổi tiếng về cung cách làm ăn trong thời kỳ mở cửa. Nhưng có lẽ nhiều người chưa biết quặng Py rít dùng để lấy lưu huỳnh cung cấp cho công nghệ chế biến phân lân, và cũng ít người biết rằng Nhà nước ta đã đầu tư cho việc khai thác Py rít một dây chuyền sản xuất đồng bộ khá hiện đại do Liên Xô (cũ) chế tạo từ khâu khoan nổ, bỗ xúc, khai thác, vận tải, tuyển quặng… Chỉ rêng nhà sàng tuyển đã có giá gần 5 triệu USD.
Từ một mỏ Py rít được bao cấp trở thành một Công ty hạch toán độc lập, phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt của cơ chế thịt rường, công nhân cán bộ Công ty Py rít còn gặp phải nhiều khó khăn do sự biến động tài nguyên mà sự sai lệch lớn giữa trữ lượng thiết kế và sản lượng khai thác thực tế đã gây nên những xáo động lớn cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh. Song sự năng động, sáng tạo của bộ máy lãnh đạo Công ty cùng với tinh thần thi đua quên mình của gần 1000 cán bộ công nhân đã giúp cho Công ty trụ vững, đẩy mạnh được sản xuất với hiệu quả kinh tế cao, đưa sản lương Py rít lên đến 100.000 tấn/năm. Doanh thu từ 14 tỷ lên 36 tỷ đồng, sáu năm liên tiếp nộp ngân sách đều vượt mức trên 15%. Hàng năm đạt lãi trên 2500 triệu đồng. Lương công nhân từ 132.000 đồng đã nâng lên gần 600.000 đồng/tháng. Với những thành phố lớn, khu công nghiệp lớn khoản thu nhập đó có thể là thấp, nhưng ở Thanh Sơn đó là thu nhập của “những người giàu”. Sự no ấm, sung túc đã tỏa sáng từ 1000 gia đình thợ mỏ này đã lan sang nhiều gia đình khác. Mùa xuân ở đây đã khởi sắc của một đô thị nhỏ.
Sau bữa ăn đơn giản có hương vị của núi rừngThanh Sơn, kỹ sư Bùi Văn Việt – Giám đốc công ty ngả lưng ra thành ghế, thở dài khi nghe tôi hỏi đến phương hướng phát triển của Công ty. Không trả lời vội, anh mở cặp, trao cho tôi bản báo cáo gửi Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tổng công ty Hóa chất Việt Nam. Tôi lặng lẽ lướt đóc những con số về tài nguyên và giật mình hiểu rằng quặng Py rít ở đây đã cạn kiệt. Giám đốc Bùi Văn Việt giải thích:
Thực ra thì đối với khai trường 1 đã được khai thác 20 năm theo phương án thiết kế mở rộng của Liên Xô (cũ) thì cũng đến thời kỳ kết thúc khai thác. Điều đáng nói là trữ lượng thiết kế căn cứ vào kết quả thăm dò là 1,1 triệu tấn nhưng thực tế chỉ lấy được trên 700.000 tấn, sai số đến 36%. Ở khai trường 2 thì nghiêm trọng hơn nhiều. Trữ lượng theo Công ty thiết kế mỏ thăm dò là 813.842 tấn, tháng 10 năm 1992 chúng tôi bắt đầu bóc đất đá, đến năm 1994 đi vào khai thác, chũng tôi phát hiện ngay có sự biến động tài nguyên rất lớn. Chúng tôi đã thuê thăm dò lại sai số chung hụt đến -79,02%. Trong đó sai số quặng rắn hụt 84,3%, sai số quặng vụn hụt 64,6%.
Dương Dương Hảo – Sức khỏe & đời sống – Số 8 (716) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995