Trang phục, nếp sống người thăng long thời lý

Dân thường đều đi chân đất. Đàn ông mặc màu thâm, đàn bà dùng sắc trắng, áo cánh viền cổ nhỏ, có cả lụa, lĩnh, sa, the, nái, sồi và cả vải bông gai… Tai đeo khuyên bạc.
Quân sĩ đóng khố cởi trần. Quân cấm vệ trên trán khắc ba chữ Hán: “Thiên tử binh”, xăm ngực, xăm đùi và xăm bụng! Từ vua đến dân ai cũng xăm mình. Mô típ trang trí trên thân thể, hoặc hình rồng, hoặc “vẽ như lối văn khắc trên trống đồng” (lĩnh ngoại đại đáp) hay văn hình móc câu khuất khúc như trên đỉnh đồng, hi đồng thời cổ. Tóc thường gội dầu thơm, lúc ở nhà thì để đầu trần, khách tới thăm mới đội khăn.
Vào triều yết, trăm quan mặc áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da đỏ, nạm sừng tê, sau thêm hình cá bằng vàng.
Võng cáng giống Chiêm Thành, Chân Lạp. Võng bằng vải như cái túi, dùng đòn dài mà khiêng, trên có mui dài, dùng lá cây trang sức như lớp vảy cá. Quan đi võng, hai người khiêng, hai người đi theo hộ giá. Về sau, cuối thế kỷ XII mới bắt chước Trung Quốc, làm kiệu thừa lương bằng gỗ, sơn đen, thiếp vàng, hai đòn kiệu đều ngắn, mưa tạnh đều dùng được. Vua ngồi xe dát ngọc, dát vàng, quạt lông trĩ che hai bên, màn cửa võng bằng bạc rũ bốn phía, lọng vàng giương lên cao, cờ sắc phấp phới…
Cấm quân mới được thích rồng ở đùi, xăm ở ngực. Cấm gia nô các nhà vương hầu, quan liêu bắt chước cấm quân xăm hình rồng trên người, ai phạm bị sung công.
Đứng người hầu trên phải khoanh tay, yết kiến vương hầu quý tộc phải quỳ lạy hay vái ba cái.
Từ vua chí nô tỳ đều nhuộm răng đen, ai cũng thích ăn trầu cau. Thích ăn củ chua và ăn mặn.
Uống rượu khá nhiều, bất kể sang hèn.
Vua ở nhà lầu bốn tầng, cột sơn son, vẽ rồng hạc và tiên nữ. Dân ở nhà tranh, vách đất, ba gian. Nơi gần hồ, đầm ngay giữa kinh thành, vẫn còn có nhà sàn.
Trời nóng nực, toàn dân kinh thành thích ra sông tắm. Ai nấy đều giỏi bơi lội, giỏi chèo thuyền. Kinh thành khi lũ lụt đều phải đi lại bằng thuyền. Thuyền nan của dân, thuyền lầu của vua quan. Chiếc thuyền ngự của Lý Nhân Tông đi cùng đoàn chiến hạm hàng nghìn chiếc, tới lui trên sông nước Đông Bộ Đầu. “Chế thuyền ngự tinh xảo kỳ lạ, làm hình liên nạm tráng hùng, dựng kiểu nghìn thuyền tú lệ, trên dựng lầu cao vòi vọi, mái che cao ngất; ghế vua ngồi đặt cao ở giữa, treo gương sáng xa trong. Hai bên thì trưng gấm vóc rõ ràng, phi tần, thể nữ rộng chỗ đứng hầu; đem chứa chan ngọc châu trang sức, đủ cả phòng ở cửa tam cung. Sớm giữa dòng chiếu rạng, tưởng như giao long há miệng đốt sóng xô, chiều dừng lại bên bờ, ngỡ rằng ngao rùa nhô lưng đội ngân hán!” (Văn bia tháp Thiên Diên Sùng Linh).
Phạm Vĩnh – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995