Từ sự tích “bà thi thóc” đến một dòng họ hiếu học – Phần 2

Túc chẩn bần nhân đức thụ âm bồi lai dã viễn
Thiên lưu phúc địa bảng khoa kết phát cừu di phương

(Đại ý là: Đem thóc phát chẩn cho người nghèo, công đức để lại mãi đời sau – trời giành phúc địa, khoa bảng kết phát, tiếng thơm lâu dài).
Nhân dân làng Vọng và một số làng trong vùng thường gọi dòng họ Ngô này là “họ Ngô bà thí thóc”.
Tính từ Ngô Ngọc đến khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn (1906) dòng con trưởng họ Ngô làng Vọng Nguyệt đã có 64 người từ nho sinh, tú lâm đường, tú lâm cục đến tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Nhà thờ họ Ngô đã được nhà nước ta công nhận là di tích danh nhân “thờ 5 tiến sĩ họ Ngô”.
Nhiều gia đình họ Ngô tuy đời sống khó khăn, chạy ăn từng bữa nhưng vẫn nuôi thầy dạy học ở nhà. Trong lúc nhiều người giàu có bỏ tiền mua danh, mua chức để có được “ông lý”, “ông chánh” một chữ bẻ đôi không biết thì một số gia đình họ Ngô mặc dù túng bẩn phải bán cả ruộng vườn để tiền nuôi con ăn học.
Đến nay, gần 600 năm, con cháu họ Ngô vẫn phát huy truyền thống tổ tiên, vun đắp cho cây “thế xuất nho khoa” ngày càng nẩy lộc, đâm chồi, đơm hoa kết trái.
Họ Ngô làng Vọng Nguyệt hiện nay có gần 40 người có trình độ đại học và phó tiến sĩ, tiến sĩ. Đặc biệt gia đình cụ Ngô Như Toàn (nguyên tỉnh ủy viên, trưởng ty nông nghiệp Bắc Ninh và Hà Bắc) cả 5 ông, con, cháu đều có trình độ đại học.
Những năm gần đây, họ Ngô đã xây dựng được “quý khuyến học”, hàng năm họ họp mặt dòng họ vào ngày 17 tháng giêng để tưởng nhớ công đức “bà thí thóc” và động viên, tặng thưởng các cháu học sinh giỏi các cấp.
Học tập họ Ngô, nhiều dòng họ ở làng Vọng Nguyệt và xã Tam Giang, cũng như một số làng ở trong huyện đã xây dựng được quỹ khuyến học và đang trở thành phong trào trong toàn huyện Yên Phong.
(1)Ngô Tuấn: Một danh tướng có nhiều công lao to lớn với vương triều Lý nên được đổi thành Lý Thường Kiệt. Người đã lập nên chiến công hiển hách trên dòng sông Như Nguyệt cùng với bài thơ “Nam quốc sơn hà nam đế cư” – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Ông sinh năm 1019, mất năm 1105.
Hồng Minh – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999