Giáo dục đồng đẳng là gì?

Giáo dục đồng đẳng là học ở bạn. Học bạn là một cách học tập hiệu quả và dễ dàng vì người dạy là người cùng giới, hay cùng giai tầng xã hội, hay cùng nghề nghiệp, hay cùng chung tình cảnh với người học. Học bạn còn là một kỹ thuật vừa học vừa dạy được dùng trong các nhóm tự lực. Thường người ta áp dụng học bạn trong các nhóm người nghiện ma túy, nghiện rượu và cá nhóm người bị xã hội khinh khi ruồng bỏ như người có tiền án, người tật nguyền, người điên. Những người đồng cảnh ngộ tìm đến với nhau để hổ trợ lẫn nhau đạt đến nhu cầu chung, cùng nhau học tập vượt qua khó khăn, chung để mang đến sự thay đổi mong muốn cho bản thân và cho xã hội. Ông Andrew Bell, một người Anh sinh năm 1753, là giám thị trường Thiếu Sinh Quân ở Egmore và khu giáo xứ nhà thờ Thánh Mary ở Madras, Ấn Độ là người phát hiện và áp dụng Giáo dục đồng đẳng bằng phương pháp dạy kèm lẫn nhau. Trường hợp phát hiện phương pháp này là do ông đã có lần quan sát trẻ con vẽ hình trên cát ở bờ biển Madras. Sau đó, ông cảm thấy nôn nóng với ý nghĩa dùng mâm cát làm dụng cụ rẻ tiền để dạy trẻ tập ráp vần. Hơn thế nữa, ông còn nhận ra rằng, nhờ trẻ con dạy trẻ con là một phương pháp giáo dục là điều quan trọng hơn cả cái mâm cát mà ông nghĩ ra. Phương pháp dạy kèm của ông Andrew Bell đặc biệt nhấn mạnh ở người dạy vì ông cho rằng trong lúc dạy học không thể không học thêm để tiến bộ hơn. Ngày nay, người ta áp dụng Giáo dục đồng đẳng cho nhiều đối tượng khác nhau, hầu hết là trong việc săn sóc sức khỏe cho các bịnh nhân mãn tính và bịnh nhân của các bịnh nan y. Trong thập niên 80, với sự xuất hiện của bệnh AIDS, Giáo dục đồng đẳng đã được sử dụng nhiều hơn trong các nhóm nguy cơ cao như nghiện ma túy, mại dâm và chính bệnh nhân của bệnh này.
Giáo dục giới tính trong nhà trường Ấn Độ
Chuẩn bị cho học sinh kiến thức làm cha mẹ, hơn 9 nghìn trẻ em của 11 trường khu vực Malavani đã được các sinh viên y khoa hướng dẫn về kế hoạch hóa gia đình, và về AIDS. Chương trình này hy vọng sẽ giúp cho các em thấy có trách nhiệm hơn trong hành vi tình dục và tuyên truyền cho các bạn cùng lứa tuổi. Các hoạt động được đưa ra cho giáo viên và phụ huynh thảo luận. Họ đồng ý dạy chung cho cả nam và nữ, nhưng về cơ quan sih dục nên tách riêng nam nữ. Các vấn đề sau được hướng dẫn kèm với phương tiện nghe nhìn. Dân số Ấn Độ lý do dân số gia tăng nhanh, ảnh hưởng của tăng dân số đến thực phẩm, quần áo, nơi ăn chốn ở. Giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục nam, cơ quan sinh dục nữ. Thụ thai và vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình sinh lý sự thụ thai, di truyền từ bố mẹ, phát triển của trẻ, vai trò phụ nữ và nam giới trong gia đình, phụ nữ trong xã hội Ấn Độ, nữ quyền. Ngừa thai nói sơ qua một ít phương pháp bệnh lây truyền qua đường tình dục đường lây truyền đặc biệt nhấn mạnh đến lây HIV. Tổng cộng có 596 em học sinh tuổi từ 13 đến 16 tuổi đã tham gia rất chăm chú, hỏi các câu hỏi thích hợp. Trong phần giáo dục thái độ, một nhóm nhỏ từ 10 đến 15 em được giao nghiên cứu 1 tình huống và cử người thuyết trình, thảo luận cởi mở. Thêm vào đó có các hoạt động ngoại khóa, đặt khẩu hiệu, vẽ bích dương, bài hát, sắm vai, trắc nghiệm, tranh luận. Với sự hướng dẫn của giáo viên, các em chọn các đề tài tranh luận như vai trò của truyền thông đại chúng, cấm mại dâm vai trò và tình trạng của người phụ nữ, sự cần thiết của giáo dục giới tính trong nhà trường, giới thiệu về bao cao su. Một số hoạt động có sự tham gia của phụ huynh. Kiến thức của học sinh về dân số, HIV/AIDS cải thiện đáng kể, các em có thái độ tích cực, có trách nhiệm trong việc chuẩn bị làm cha, làm mẹ, kế hoạch hóa gia đình, phòng ngừa lây truyền HIV.
Họp báo về chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn do thiếu lode
Nhằm thực hiện quyết định 481/TTg của Thủ tướng chính phủ về việc tổ chức và vận động toàn dân ăn muối IODE, chiều ngày 4 tháng 8 năm 1995, Ban chỉ đạo chương trình toàn dân ăn muối IODE, Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức họp báo tại Trung tâm dinh dưỡng trẻ em. Theo điều tra dịch tể học của Bộ y tế năm 1993 mức thiếu hụt IODE và các rối loạn do thiếu hụt IODE ở nước ta rất đáng lo ngại, ước chừng 94% dân số thiếu hụt IODE thể hiện qua mức IODE niệu thấp, tỉ lệc mắc bệnh bướu cổ trung bình ở 31 tỉnh cả miền núi lẫn đồng bằng là 34,2% có nơi lên tới 60% đến 80% và tỷ lệ trẻ mắc chứng đần độn từ 1% đến 8%. Mục tiêu năm 1995, vận động được 70% người dân thành phố dùng muối IODE, tiến tới toàn dân dùng muối IODE, để đến năm 2000 tỷ lệ bướu cổ ở lứa tuổi học sinh từ 6 tuổi đến 14 tuổi xuống dưới 10%, không còn trẻ bị chứng đần sơ sinh, và toàn dân đạt được muối IODE niệu trung bình là 10 mg/dl. Nhiều vấn đề về muối IODE cách pha chế, phân biệt muối thật, giả, cách phân phối, bảo quản… đã được nêu ra và giải đáp trong buổi họp.
Xuân Đào-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998