Người bác sĩ có tấm lòng nhân hậu

Tốt nghiệp trường Đại học y Hà Nội từ những năm 1960, bác sĩ Nguyễn Thị Dụ được giữ lại làm giáo viên giảng dạy tại trường. Trải qua hơn 30 năm công tác, chị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và được đồng nghiệp và bệnh nhân hết lòng tin yêu. Năm 1974 chị về công tác tại khoa A9 bệnh viện Bạch Mai, khi đó A9 mới có 6 giường bệnh với vài bác sĩ, y tá. Công việc ở A9 là cấp cứu bệnh nhân nặng, chị và anh em luôn bận rộn, căng thẳng bất kể ngày đêm, toàn những bệnh nhân thập tử nhất sinh từ các nơi dồn đến. Đây là tuyến cấp cứu cuối cùng, mỗi khi có bệnh nhân vào cấp cứu là một trận chiến mới của các y bác sĩ. Người nào, việc ấy, tất cả máy móc, các kỹ thuật chuyên môn được đem ra áp dụng để chuẩn đoán nhanh, điều trị sát, bệnh nhân được theo dõi 24 trên 24. Là người lãnh đạo, chị gương mẫu làm đủ các chức năng của người hộ lý, y tá cũng như công việc điều trị bệnh nhân. Có như thế, chị mới có thể hướng dẫn cho anh chị em làm tốt, làm đúng được. Từ những thành công thất bại, chị luôn cùng anh em bàn bạc rút ra kinh nghiệm để chăm sóc và điều trị bệnh nhân ngày một tốt hơn. Số bệnh nhân đến cấp cứu tại khoa ngày càng đông, nhiều bệnh nhân tưởng như vô phương cứu chữa lại được cứu sống, điều đó tạo thêm niềm tin của người bệnh và đồng nghiệp với A9 ngày càng tăng lên. Là phó khoa hộ sinh cấp cứu, lại vừa là PCN bộ môn hộ sinh cấp cứu Trường đại học Y Hà Nội, chị luôn là có ý thức nỗ lực, phấn đấu về khả năng chuyên môn, học tập đọc và viết sách đem những kinh nghiệm, kiến thức của mình giảng giải cho các y bác sĩ và thế hệ sinh viên. Chị luôn nói với đồng nghiệp trẻ làm bác sĩ, ý tá không những phải giỏi về kiến thức, tinh thông nghiệp vụ mà điều quan trọng nhất là phải có lương tâm, chỉ có lương tâm mới gắn bó cho người thầy thuốc trách nhiệm cao cả trước người bệnh. Bên cạnh đó, chị cùng anh em trong khoa tìm tòi, nghiên cứu những đề tài khoa học nhằm chuẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân một cách tốt nhất. Những đề tài về Ngộ độc thức ăn, sốc phản vệ của chị và anh em trong khoa đã được áp dụng và góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân từ 21% vào năm 1980 xuống còn 10% vào năm 1995. Chị còn vận động tổ chức cùng anh em thường xuyên xuống các địa phương để phổ biến kinh nghiệm giảng dạy chuyên môn cho các y bác sĩ hộ sinh cấp cứu. Là người nhiều tuổi đời, tuổi nghề nhất so với anh em trong khoa, chị hiểu và thông cảm đến mọi khó khăn vất vả của họ. Thời kinh tế thị trường, các bác sĩ khoa khác còn mở phòng khám tư nhưng ở A9 hiếm có bác sĩ nào làm thêm ngoài giờ vì họ đã quá mệt mỏi khi phục vụ bệnh nhân trong khoa. Là lãnh đạo chị luôn động viên, an ủi, gương mẫu chăm lo đúng mức đến sức khỏe của cán bộ nhân viên cũng như gia đình họ. Bù lại trong những khó khăn bề bộn ấy chị và anh em đã được nhiều những lời khen, khuyến khích của bệnh nhân và đồng nghiệp. Hết lòng vì công việc, đôi lúc chị nhận được sự không đồng tình về quyền lợi, chị chỉ nói làm người thầy thuốc phải hy sinh quyền lợi cá nhân, là thầy giáo thì phải sống trong sạch. Cái quí giá nhất mà chị luôn luôn tâm niệm và thực hiện tốt đó là phải có lương tâm. Chị thật xứng đáng với niềm tin yêu, kính trọng mà đồng nghiệp, học sinh và bệnh nhân đã dành cho mình.
T. Thủy-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 56(868)1998