Vấn đề tuần này

Đã đến lúc cần xem xét lại lĩnh vực hợp tác làm phim với nước ngoài
Mấy năm gần đây, một loạt phim hợp tác giữa một số đơn vị điện ảnh của ta với nước ngoài như Xích lô, Yêu tiếng hát Việt Nam, Đường Trần, Jame Bond 18… đều gây dư luận, đặc biệt là dư luận không mấy thuận lợi cho những bộ phim đó. Tại sao lại như vậy? Thật dễ hiểu, tính tư tưởng của loại phim như vậy dường như không được kết từ cơ sở hiện thực của đất nước ta. Nói cách khác, đạo diễn quốc tịch nước ngoài đã hư cấu đến mức quá đáng thậm chí dùng cả xảo thuật điện ảnh để minh họa cho sự hư cấu đó, tạo hình ảnh về một Việt Nam đen đúa, bạc bẽo, mục nát… Sau khi xem Xích Lô của Trần Anh Hùng một số Việt Kiều ở Pháp và Canada đã hiểu lầm về hoàn cảnh sống ở Việt Nam, cho rằng ở quê hương chỉ là một cuộc sống bế tắc. Khác hẳn với vài bộ phim hợp tác với nước ngoài mang tính tư tưởng đối tốt như Điện Biên Phủ, Đông Dương, những bộ phim vừa liệt kê ở trên lại hàm chứa ý nghĩa tiêu cực xã hội như Xích Lô, hoặc trưng ra những nhân vật thật hoặc hư cấu nhưng đều không thích thú gì lý tưởng cộng sản như Yêu tiếng hát Việt Nam, James Bond 18. Gần đây nhất lại đạo diễn Trần Anh Hùng với ý đồ thực hiện bộ phim Chuyện tình kể trước lúc rạng đông. Lại những số phận nghiêng ngả không lối thoát và lại một màu đen tối của xã hội. Tất cả những chuyện như vậy tất yếu đang đặt ra vấn đề: Nhà nước ta cần xem xét đánh giá lại những mặt tốt và không tốt trong lĩnh vực hợp tác làm phim với nước ngoài trong thời gian mấy năm qua, để từ đó rút ra định hướng và những biện pháp cụ thể cho lĩnh vực này trong thời gian tới. Đó là việc cần thiết làm ngay để ngăn ngừa những nọc độc văn hóa, sau một thời gian dài với hiện tượng rất ít nhà làm phim lớn của nước ngoài thật sự hợp tác với ta, còn một phần lớn bộ phim được quay lại mang ý đồ không tốt. Phải chăng chúng ta thiếu định hướng? Phải chăng chúng ta lơ là trước những nọc độc văn hóa tiềm ẩn? Câu trả lời cho những điều trên hết thuộc Bộ văn hóa thông tin.
Bệnh viện E sơ kết một năm liên kết kỹ thuật
Ngày 19 tháng 12 năm 1998, Bệnh viện E đã tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện liên kết kỹ thuật với Bệnh viện Việt Đức và một số bệnh viện đầu ngành. Giáo sư Đỗ Kim Sơn giám đốc Bệnh viện Việt Đức cùng các giáo sư đầu ngành của bệnh viện Việt Đức, bệnh viện K, Viện Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ sinh sản, giám đốc, trưởng khoa ngoại, trưởng phòng kế hoạch tổng hợp một số bệnh viện tỉnh và trung tâm y tế huyện lân cận đã đến dự. Phát biểu tại hội nghị, các đại biểu đã đánh giá cao tinh thần hợp tác, bình đẳng và xây dựng, sự giúp đỡ nhiệt tình vô tư về kiến thức, kỹ thuật, phương tiện của các viện và các giáo sư bác sĩ đầu ngành, khẳng định hiệu quả và tính bền vững của một phương thức mới liên kết để chuyển giao kiến thức, kỹ thuật, để chia sẻ gánh nặng do quá tải ở các bệnh viện đầu ngành. Giáo sư Trần Ngọc n – giám đốc bệnh viện E đã bày tỏ niềm vui về những kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực: chấn thương – chỉnh hình, tiết niệu, tiêu hóa, sản phụ khoa và mong muốn được phục vụ nhiều hơn, được chia sẻ nhiều hơn gánh nặng với các bệnh viện đầu ngành, đồng thời sẵn sàng tiếp nhận điều trị bệnh nhân từ các tỉnh bạn, huyện bạn. Hy vọng, trong thời gian tới hoạt động liên kết kỹ thuật tiếp tục được mở rộng mọi mặt để tăng cường kỹ thuật mặt khác từng bước cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh trong các lĩnh vực ngoại khoa, sản phụ khoa và nhiều chuyên ngành khác.
Hội thảo khoa học “Châm cứu cai nghiện ma túy”
Ngày 21 tháng 12, tại Hà Nội, Viện châm cứu Việt Nam, kết hợp cùng với Ban chỉ đạo phòng chống ma túy Bộ y tế tổ chức Hội thảo khoa học với đề tài “Châm cứu cai nghiện ma túy”. Tới dự có đại diện Bộ y tế, Bộ công an, Bộ lao động thương binh và xã hội, Ban chỉ đạo phòng chống ma túy Bộ y tế, Viện sức khỏe tâm thần trung ương và Hà Nội. Tại hội thảo, giáo sư thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tài Thu – Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam đã trình bày công trình nghiên cứu và thực nghiệm của mình châm cứu để cắt cơn cho những người nghiện ma túy. Công việc bước đầu được tiến hành có hiệu quả rất tốt, 90% số người nghiện được áp dụng phương pháp này đã cắt cơn nghiện sau 4 đến 6 ngày điều trị. Theo ý kiến của nhóm nghiên cứu đây là phương pháp cai nghiện có hiệu quả và tốn ít kinh phí. Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã nói trong hội thảo: “Một trong những yếu tố giúp thành công là sự hợp tác thật sự của người nghiện và chúng tôi thật sự coi đó là những người bệnh”. Trong thời gian tới, cần có sự hỗ trợ, phối hợp của các cơ quan liên quan, viện sẽ tiếp tục hoàn thiện công trình và đưa phương pháp này vào áp dụng để điều trị cho người nghiện ở các trung tâm và cộng đồng.
Sao Mai-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 52(813)1998