Giáo sư – Tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên nhà khoa học lớn của y học dự phòng Việt Nam – Phần 1

Giáo sư tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên sinh ngày 18 tháng 3 năm 1929 trong một gia đình trí thức cách mạng quê ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Vài năm sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông vào Trường đại học y dược khoa Hà Nội, sau đó tham gia công tác trong nhiều lĩnh vực của ngành y tế từ năm 1947 đến năm 1949 và trong quân đội từ năm 1949 đến năm 1954 ở các đơn vị quân y tiền phương, tham gia các chiến dịch Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hoàng Hoa Thám. Năm 1953, ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Chính phủ cử hai cán bộ cao cấp dân y phối hợp với quân y trực tiếp phục vụ chiến dịch Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ thương binh và bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ y tế, cố vấn phẫu thuật Bộ quốc phòng. Theo yêu cầu của Bộ tổng tư lệnh, Bộ y tế cũng cử một đoàn cán bộ lên Điện Biên Phủ xây dựng phòng xét nghiệm vi sinh vật – hóa học được trang bị khá hiện đại do nhà khoa học trẻ tuổi Hoàng Thủy Nguyên phụ trách để giám sát và phòng chống chiến tranh vi trùng hóa học của thực dân Pháp. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp kết thúc, trong khu vực Mường Thanh, Hồng Cúm xảy ra bệnh lỵ trực trùng. Thuốc Ganidan để chữa trị khi đó không còn, nhà khoa học trẻ Hoàng Thủy Nguyên đã dùng canh trùng Bacillus subtilis, chủng do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mang từ miền Nam ra, dập tắt được vụ dịch này. Sau năm 1954, chúng ta phải tiếp quản một xã hội do chế độ thực dân để lại vô cùng lạc hậu về kinh tế, văn hóa, xã hội với một di sản bệnh tật vô cùng nặng nề, một tình trạng vệ sinh tồi tệ, thảm hại. Các dịch bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, thương hàn, bại liệt, đậu mùa, sởi, quai bị, thủy đậu, viêm não, viêm gan… hoành thành làm cho xã hội tiêu điều, nhiều gia đình khốn đốn. Trẻ bị bại liệt lê la khắp đường phố, xóm làng. Trong ba năm liền từ năm 1957 đến năm 1959 bệnh bại liệt phát thành dịch, tỷ lệ chết rất cao. Chỉ riêng năm 1959 tử vong do bệnh bại liệt lên tới 13%, chủ yếu do bại liệt thể hành tủy. Cuối 1958, dịch cúm Hồng Kông xảy ra trên toàn thế giới, nước ta cũng bị ảnh hưởng lớn của dịch vụ này, người ốm la liệt. Y học và y tế dự phòng đã có vai trò không nhỏ trong việc khắc phục tình trạng trên. Với các phương tiện rất thô sơ hồi ấy, nhà khoa học trẻ Hoàng Thủy Nguyên lần đầu tiên đã phân lập và định loại được vi rút cúm, virut bại liệt, bước đầu bắt tay vào xây dựng phòng thí nghiệm virut, xây dựng chuyên ngành virut học. Virut học trở thành chuyên ngành không thể thiếu trong nền y học nước ta từ đó. Không như các bệnh nhiễm khuẩn có thể điều trị bằng kháng sinh các bệnh do virut gây ra thời đó và cho đến nay cũng chưa có thuốc đặc hiệu chữa trị trong khi các bệnh do virut thường hay phát thành dịch. Cách duy nhất để giải quyết các bệnh, dịch do virut gây ra là dùng vacxin. Nhưng việc sản xuất vacxin phòng chống virut lại phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với sản xuất vacxin phòng chống các vi khuẩn. Để phòng chống bệnh bại liệt, có hai loại vacxin, vacxin Saik và vacxin Sabin. Vacxin Salk đã được chấp nhận nhưng chỉ mới được chấp nhận nhưng cũng chỉ mới được số rất ít nước như Hoa Kỳ, Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan đưa vào sử dụng từ năm 1955. Vacxin Sabin nghiên cứu, khi đó Hoa Kỳ gốc Ba Lan Sabin nguyên cứu, khi đó Hoa Kỳ còn chưa cấp bằng sáng chế, chưa cho sử dụng.
Vacxin Salk là loại Vacxin chứa virut bại liệt 3 typ I, II, III nuôi cấy trên tế bào thận khỉ sau đó virut bị bất hoạt. Tuy không thuận tiện cho việc sử dụng trong cộng đồng vì phải đưa vào cơ thể bằng đường tiêm và chỉ tạo được miễn dịch dịch thể, không tạo được miễn dịch tại chỗ nên không loại được virut bại liệt ra khỏi cơ thể, nhưng tiêm chủng ít gây ta biến vì virut đã bị bất hoạt. Vacxin Sabin dễ sử dụng hơn trong cộng đồng vì có thể uống, không cần tiêm, vừa tạo được miễn dịch dịch thể trong máu, vừa tạo được miễn dịch ở đường tiêu hóa, loại trừ được virut hoang dại trong cơ thể, sản xuất rẻ hơn, kinh tế hơn sản xuất vacxin Salk, nhưng qui trình sản xuất rất ngặt nghèo, không những phải đảm bảo tính hiệu quả mà con phải rất an toàn để tránh tai biến cho người dùng. Quyết định sử dụng loại Vacxin Sabin là một quyết định dũng cảm, khoa học. Trên thế giới khi đó chỉ mới có Liên Xô sử dụng Vacxin Sabin và cũng chỉ mới từ năm 1959. Mặc dù được nghiên cứu từ những năm 50 nhưng mãi đến 1963 Vacxin bại liệt uống của Vacxin Sabin mới được Nhà nước Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế. Mùa hè năm 1960, nhà khoa học Hoàng Thủy Nguyên được Bộ y tế cử sang Liên Xô tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất Vacxin Sabin trực tiếp từ viện sĩ Chu-ma-kop. Năm 1962 phòng thí nghiệm virut học của ông đã sản xuất được 2 triệu liều Vacxin Sabin, đủ nhu cầu cho trẻ em miền Bắc nước ta khi đó. Một kỷ niệm sâu sắc đến nay giáo sư Hoàng Thủy Nguyên vẫn còn nhớ là để yên lòng mọi người về tính an toàn của Vacxin do ông sản xuất, Bộ trưởng Bộ y tế Phạm Ngọc Thạch đã mời ông lên Bộ mang theo 200 liều Vacxin Sabin rồi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và ông, mỗi người đã uống 100 liều Vacxin này trước các lãnh đạo các vụ, cục của Bộ y tế. Việt Nam trở thành nước thứ hai, trước cả Hoa Kỳ, sản xuất và sử dụng rộng rãi Vacxin này. Chúng ta khống chế được bệnh bại liệt từ đó. Chỉ 1 đến 2 năm nữa thôi, đến năm 2000, đất nước ta sẽ thanh toán được căn bệnh hiểm nghèo này. Chỉ 1 đến 2 năm nữa thôi, hình ảnh những đứa trẻ chân tay teo tóp, nằm đờ đẫn bất động hoặc lê lết khi di chuyển sẽ vĩnh viễn chỉ còn là những kỷ niệm đau buồn của quá khứ.
PGS.PTS Hoàng Minh-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 51(812)1998