Thơ Đường

Đầu tháng 11 vừa qua, báo Người cao tuổi tổng kết cuộc thi dịch thơ Đường sang thơ Việt Nam (dịch bài Buổi sớm rời thành Bạch Đế của Lý Bạch) chỉ trong ba tháng đầu, tòa soạn đã nhận được tới hơn năm trăm bài dự thi, gồm một số bài của các nhà thơ nổi tiếng.
Tôi có một ông bạn người Pháp sinh ra ở Hà Nội, bố mẹ là công chức ở Việt Nam thời trước. Sau khi Pháp mất Đông Dương, ông về nước sinh sống làm việc cho Liên hiệp quốc. Nhưng ông không sao quên được những năm tháng sống ở Việt Nam, đất nước và con người Việt Nam. Tôi gặp ông vào đầu mùa xuân 1990, trong một buổi tiếp đoàn du lịch của Hội Pháp – Việt hữu nghị. Nhắm lạc bên cốc bia, ông cho biết là ông đã học chữ Hán để học Đường Thi vì thơ Lý Bạch, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên… gợi cho ông một cảnh sắc, một rung cảm… phù hợp với ký ức Việt Nam của ông. Thế là chúng tôi nói chuyện miên man về thơ Đường… Sau đó, chúng tôi kết bạn.
Tôi tự hỏi: thơ Đường có mãnh lực gì khiến cho hơn nghìn năm sau, vẫn được ưa thích ở Việt Nam (như cuộc thi của báo Người cao tuổi cho thấy)? Vẫn làm được chiếc cầu văn hóa giữa hai người da vàng da trắng sống xa nhau hàng vạn dặm?
Trả lời câu hỏi thứ nhất tương đối đơn giản hơn. Đối với Trung Quốc, nước ta cũng như Nhật Bản, Triều Tiên là những nước “đồng văn”, có một thời gian dài dùng chữ Hán trong văn học. Người Việt Nam đã sớm tạo ra một nền thi ca dân tộc với những thể thơ riêng (lục bát, song thất lục bát và các biến thể). Ngoài ra, qua tiếp biến văn hóa, chúng ta đã thể hiện được tình cảm và tư duy trực tiếp qua Đường thi không những bằng chữ Hán – Việt mà cả bằng chữ Nôm và quốc ngữ (nghĩa là bằng tiếng Việt). Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một thí dụ điển hình về sử dụng nhuần nhuyễn Đường luật ở ta. Áp dụng vào Nôm, thì Hồ Xuân Hương và Tú Xương thật tuyệt vời. Dịch Đường thi và thơ chữ Hán nói chung, phải kể đến Đoàn Thị Điểm, Tản Đà. Thế hệ thơ mới những năm 30, một mặt phá vỡ khuôn sáo gò bó của Đường thi, một mặt xao xuyến khám phá lại Đường thi với một tâm hồn mới, như: Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn… Dịch thơ Đường trở thành một sự tái tạo lý thú. Đối với thơ Đường, người Việt Nam còn có một lợi thế nữa: chữ Hán – Việt cho đến nay vẫn phát âm theo chữ Hán đời Đường. Vì vậy, ngâm thơ Đường, tự điệu đời Đường. Trong khi đó, qua ngàn năm, âm Hán thay đổi trên đất Trung Quốc: một chữ Hán thời Đường vốn âm “bằng” ngày nay có thể thành âm “trắc” hoặc ngược lại. Do đó trong các tuyển tập Đường thi thường chua hình tròn trắng là âm bằng, hình tròn đen là âm trắc, để giúp người Trung Quốc ngày nay đọc đúng thanh luật đời Đường. Một giáo sư Trung Quốc khi nghe Hoàng Cầm ngâm “Hoàng hạc lâu” bằng Hán – Việt cho là bài ấy do người Trung Quốc ngâm âm Hán chưa chắc hay bằng.
Câu hỏi thứ hai nêu lên: “Ở đâu là sự hấp dẫn của thơ Đường đối với những người như ông bạn Pháp của tôi, thuộc văn hóa phương Tây”. Các tác giả phương Tây dịch thơ Đường đều nêu lên bức “Vạn lý trường thành” giữa hai nền văn hóa Đông Tây. Ngôn ngữ là hàng rào đầu tiên. Margoulies và Demieville nhấn mạnh hai loại “mất mát” khi dịch chữ Hán sang một thứ tiếng châu u mang tính phân tích. Loại thứ nhất do ngôn ngữ châu u đa âm. Bản thân chữ Hán lại có tính nhạc riêng, vvif có đến 4 thanh. Khác với các ngôn ngữ châu u có hiện tượng biến tố và phát sinh phân tách, các từ chữ Hán không thay đổi khi được dùng vào các chức năng ngữ pháp khác nhau (danh từ, động từ, tính từ…) Chính sự thiếu chính xác này lại khiến cho thơ Đường có tính chất mang mang. Loại “mất mát” thứ hai là do văn hóa châu Á có một hệ thống tín hiệu riêng với những hệ thống “mã” riêng. Thí dụ, “xuân” gợi khí dương, phía đông…) – những quy ước khác với phương Tây. Do tính hàm xúc, tính nhạc, tín hiệu văn hóa khác, nên câu thơ Đường 27 âm tiết dịch sang tiếng Pháp có thể phải mất 70 âm tiết mà vẫn chưa thật đúng tứ gốc.
Với bao “mất mát” qua dịch thuật, sức truyền cảm của thơ Đường, còn gì với độc giả châu u? Vẫn còn bản thông điệp về sự thanh thản của tâm hồn và về tình người, ấn tượng về một nghệ thuật thi ca điêu luyện, một thế giới “mà ở đó tất cả là thư giãn, giản dị, thoải mái” (Demieville)
Đối với ta, thơ Đường luật chữ Hán – Việt hoặc chữ Nôm, chữ quốc ngữ thuộc về di sản văn hóa dân tộc, vì đã được Việt hóa, cũng như truyện Kiều (mặc dù xuất phát là một cuốn sách Trung Quốc).
Hữu Ngọc –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998