Điều trị bệnh sốt xuất huyết bằng thuốc cổ truyền

Sốt xuất huyết (SXH) là bệnh do vi rút dengue gây nên. Người bị bệnh là do một loại muỗi vằn (muỗi Ardes aegypti) đốt truyền từ người bệnh sang người lành.
Bệnh có những biểu hiện lâm sàng chủ yếu sau đây:
Sốt cao đột ngột, liên tục và kéo dài từ 2 – 7 ngày.
Xuất huyết dưới nhiều hình thái hoặc là điểm xuất huyết, ban xuất huyết, vết bầm máu; chảy máu cam, chảy máu chân răng, nôn ra máu hoặc ỉa ra máu, hoặc dấu hiệu dây thắt dương tính.
Gan có thể to.
Sốc: biểu hiện bằng mạch nhanh, yếu và kẹt huyết áp động mạch (<20mmHg) hoặc huyết áp thấp kèm theo nổi da gà, lạnh và li bì, vật vã.
Cách làm thử nghiệm dây thắt:
Đo huyết áp ở cánh tay.
Giữ băng đo huyết áp ở áp lực trung bình (giữa huyết áp tói đa và huyết áp tối thiểu) trong 5 – 7 phút.
Hạ thật nhanh hơi trong băng đo huyết áp, đợi cho màu da phía dưới băng đo huyết áp trở về bình thường.
Tìm chấm xuất huyết ở mặt trước cẳng tay, chỗ nếp gấp cẳng tay – cánh tay, trên diện tích 1 cm vuông.
Kết quả đọc như sau:
Dưới 5 chấm xuất huyết: dấu hiệu dây thắt âm tính (-)
Từ 5 chấm xuất huyết trở lên: dấu hiệu dây thắt dương tính (+)
Theo Tổ chức y tế thế giới (OMS – 87158), mức độ nặng nhẹ của bệnh được quy định như sau:
Độ 1: Bệnh nhân sốt cao, biểu hiện xuất huyết: dấu hiệu dây thắt dương tính (+), tăng thẩm thấu mao mạch nhẹ, tiểu cầu giảm nhẹ.
Độ 2: Như độ 1, kèm theo xuất huyết dưới da và các biểu hiện xuất huyết tự phát khác, thoái huyết tương nhẹ, tiểu cầu giảm nhẹ.
Độ 3: Mạch nhanh và yếu, huyết áp kẹt hoặc tụt, da lạnh tái, vật vã; chảy máu bất thường, ồ ạt, thoái huyết tương nhiều, người bệnh có thể bị choáng; hạ tiểu cầu nhiều; tăng thể tích hồng cầu.
Độ 4: Thân nhiệt bệnh nhân giảm đột ngột, huyết áp không đo được, mạch không bắt được; choáng mất máu; đông máu trong lòng mạch;
Y học cổ truyền xếp bệnh sốt xuất huyết vào nhóm ôn bệnh và ôn dịch (ôn dịch có tính lây lan thành dịch). Nhiệt tà tác động vào doanh, vệ, khí, huyết. thực tiễn cho thấy thuốc cổ truyền có khả năng điều trị tốt bệnh sốt huyết độ 1, độ 2. Các trường hợp sốt suất huyết độ 3 và độ 4, nhất thiết phải điều trị bằng y học hiện đại (có thể dùng bài thuốc cổ truyền để điều trị phối hợp). Phép điều tị của Y học cổ truyền là: Thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, giải độc, nâng cao thể trạng. Nguyên tắc điều trị chung là: Uống thuốc cổ truyền, kết hợp nghỉ ngơi, ăn nhẹ dễ tiêu.
Bài thuốc 1: lá cúc cần 12 gam, có nhọ nồi 16 gam, mã đề 16 gam, trắc bách diệp (sao đen) 16 gam, sắn dây củ 20 gam, rau má 16 gam, lá tre 16 gam, gừng tươi 3 lát.
Nếu không có sắn dây củ thì thay bằng lá dâu 16 gam. Nếu không có trắc bách diệp thì thay bằng lá sen sao đen 12 gam, hoặc kinh giới sao đen 12 gam.
Cách dùng: Cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm uống ngày 3 lần.
Bài thuốc 2: Cỏ nhọ nồi 20 gam, cối xay (sao vàng) 0.8 gam, rễ cỏ tranh 20 gam, sài đất 20 gam, hạ khô thảo 12 gam, hòe hoa (sao vàng) 10 gam, từng tươi 3 lát.
Nếu không có hạ khô thảo thì thay bằng bồ công anh: 12 gam.
Cách dùng: cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm, uống ngày 3 lần.
Bài thuốc 3: Cỏ nhọ nồi 20 gam, cam thảo 0,6 gam, hoạt thạch 12 gam, mã đề 16 gam, gừng tươi 3 lát.
Nếu không có hoạt thạch thì thay bằng cối xay12 gam: nếu không có mã đề thì thay bằng lá tre 16 gam.
Cách dùng: Cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút để nguội, uống ngày 3 lần. Nếu hết sốt, ngừng thuốc ngay.
Bài thuốc 4: Hoạt thạch 6 phần cam thảo 1 phần.
Tán bột, trộn đều, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Nếu hết sốt, ngừng thuốc ngay.
Các bài thuốc trên điều trị cho trẻ em liều dùng như sau:
Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi: liều bằng 1/3 liều người lớn.
Trẻ em từ 6 đến 13 tuổi: liều bằng ½ liều người lớn.
Trẻ em từ 14 tuổi trở lên: liều bằng người lớn.
Trẻ em còn bú mẹ thì cho mẹ uống thuốc, qua sữa mẹ điều trị cho con.
Giai đoạn phục hồi: Bệnh nhân hết sốt, các nốt xuất huyết lặn dần, người mệt mỏi, ăn kém, cho dùng:
Bài thuốc 5: “Bổ trung ích khí”: Đẳng sâm 16 gam, bạch truật 12 gam, trần bì 0,8 gam, hoàng kỳ 12 gam, thăng ma 0,8 gam, cam thảo 0,6 gam, đương quy 12 gam, sài hồ 10 gam.
Sắc uống ngày 1 tháng chia 3 lần, hoặc có thuốc hoàn thì uống theo chỉ dẫn ghi trong đơn (không dùng cho trẻ em).
Chú ý: Khi bệnh nhân sốt xuất huyết đang sốt cao, không được dùng nhân sâm và các chế phẩm có nhân sâm.
Thuốc uống phòng dịch trong vùng đang có dịch lưu hành:
Dùng bài thuốc 2 sắc uống trong suốt vụ dịch, uống thay nước chè hàng ngày.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998