Dược liệu – thuốc cổ truyền

Từ lâu, ngành Dược nước ta đã xác định: “dược liệu là thế mạnh”. Vậy chúng ta đã làm gì để tận dụng thế mạnh đó? Từ 1961 đến 1985, công tác điều tra dược liệu ở nước ta cơ bản đã hoàn thành. Qua điều tra ở 2715 xã, phường, thị trấn thuộc 357 huyện, thị xã của các tỉnh, thành phố thuộc trung ương ghi nhận được là 1863 loài, thuộc 236 họ thực vật bậc thấp cũng như bậc cao. Hiện nay đã điều tra phát hiện thêm và bổ sung lên tới trên 200 loài, trong số này có vài loài đã được các nhà thực vật học xác định là loài “mới” đối với khoa học. Về động vật làm thuốc đã ghi chép được khoảng 70 loài. Qua phân loại chữa bệnh ta thấy trong 1863 loài cây trên có 253 loài cây chữa cảm sốt, 242 loài cây chữa kiết lỵ, 249 loài cây chữa tiêu độc, 282 loài cây chữa ho viêm họng 238 chữa tê thấp, 143 loài cây điều kinh và 486 loài cây chữa bệnh khác… Số liệu trên khẳng định cây làm thuốc ở nước ta khá phong phú và phân bố rộng rãi khắp nơi, một số cây có trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, khả năng khai thác dồi dào, phần lớn các cây thuốc đáp ứng được nhu cầu phòng chữa bệnh ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Về công tác nghiên cứu, đã hoàn thiện ổn định 8 quy định trồng trọt tái sinh các loại dược liệu (như: thanh cao, kanhkina, sa nhân, vàng đắng, cỏ ngọt, dioscorea, bụp dấm, đu đủ) tạo được một số giống mới có năng suất và chất lượng cao (như: thanh cao, đương quy, bạch chỉ, ngưu tất, bạc hà); đã xây dựng được 19 quy trình chiết suất hoạt chất từ dược liệu đạt hiệu quả kinh tế cao (như: chiết artemisinin từ thanh cao, solasodin từ cà úc, steviosit từ cỏ ngọt, papain từ đu đủ, azmalicin, vandilin, cathranthin từ dừa cạn…).
Đáp ứng nhu cầu dược liệu Y học cổ truyền (YHCT) và y học hiện đại (YHHĐ). Hàng năm đã cung cấp cho hàng trăm khoa Y học cổ truyền trong bệnh viện đa khoa, trên 4.000 cơ sở chẩn trị Y học cổ truyền… Đã cung cấp các thuốc từ dược liệu có giá trị chữa bệnh như thuốc sốt rét, thuốc hạ cholesterol trong máu, thuốc đường ruột, thuốc bỏng, đồng thời còn dùng dược liệu để chiết suất các hoạt chất quan trọng cho sản xuất tân dược. Với 170 cơ sở sản xuất đông dược theo quy mô công nghiệp và bán công nghiệp cũng sử dụng khoảng 10.000 tấn dược liệu, với doanh thu khoảng 700 tỷ đồng (chưa kể một số sản xuất hương liệu – mỹ phẩm cũng có dùng dược liệu).
Về xuất khẩu, khoảng gần 100 doanh nghiệp nhà nước (chưa kể tư nhân) tham gia kinh doanh xuất khẩu dược liệu trực tiếp hoặc gián tiếp với khối lượng khoảng 10.000 tấn/ năm, trị giá từ 10 – 12 triệu USD/ năm như long nhãn (2.000 – 3.000 tấn/ năm), sa nhân (1.500 – 2.000) tấn, hạt sen (1.500 – 2.000 tấn), quế (3.500 – 5.000 tấn). Ngoài ra hàng năm ta cũng nhập khoảng trên 100 loại dược liệu với khối lượng khoảng 10.000 – 12.000 tấn, trị giá từ 8 – 12 triệu USD.
Vè sản xuất thuốc cổ truyền trong nước, với số lượng hơn 1.400 mặt hàng đông dược được xét cấp số đăng ký lưu hành, các dạng thuốc đã có sự đổi mới về dạng thuốc thích hợp với xu hướng chung hiện nay như viên vỉ, viên nang cứng, trà túi lọc, thuốc nhỏ giọt… Các xí nghiệp sản xuất thuốc đông đã trang bị áp dụng một số công nghệ mới phục vụ cho các công đoạn chiết suất, cô đặc… khắc phục hiện tượng nhiễm khuẩn, ô nhiễm…
Hiện nay đã có một số thuốc đông có hiệu lực trong điều trị bệnh như: hạ cholesterol trong máu, thuốc chữa viêm gan, thuốc hỗ trợ điều trị ung thư, thuốc chữa bỏng, thuốc hỗ trợ chữa cai nghiện ma túy…
Doanh thu của thuốc cổ truyền ước bằng 10% doanh số sản xuất thuốc nói chung. Một số sản phẩm được ưa chuộng ở nước ngoài nên đã xuất khẩu như: chè linh chỉ, sâm quy tinh, rượu hải mã…
Về nhập khẩu, hàng năm ta cũng có nhập theo đơn hàng một số thuốc cổ truyền từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ… ước tính 1 triệu cũng như công tác nghiên cứu về dược liệu (thổ nhưỡng, đất đai, giống loài, kỹ thuật trồng và chăm bón) chưa được đầu tư đúng mức, phương hướng nghiên cứu chưa rõ, chưa mang lại hiệu quả. Công tác nghiên cứu: sau thu hoạch, chế biến sao tẩm chưa làm được nhiều mà tác dụng của dược liệu phụ thuộc vào yêu cầu làm tốt công tác tồn trữ, bảo quản (dược liệu dễ bị nấm mốc dẫn tới có độc tố trong nấm mốc) chế biến (trong quá trình sao tấm có thể hình thành các sản phẩm cháy dở gây ung thư, quái thai), phối hợp các vị thuốc (thuốc cổ truyền thường kết hợp nhiều vị thuốc dẫn tới có các tương tác lợi, bất lợi). Phong trào trồng và sử dụng thuốc nam ở xã tuy còn nhưng hiệu quả thấp vì thuốc tân dược có sẵn, hiện nay thị hiếu người dân muốn “chữa bệnh sớm, dùng thuốc “mạnh”, khỏi bệnh nhanh nên ít dùng thuốc nam điều trị. Việc hiện đại hóa, công nghiệp hóa ngành sản xuất đông dược còn nhiều khó khăn cũng như công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm đông dược khó xác định (rượu rắn không thể phân tích rượu có ngâm đủ bộ rắn: 3 con hoặc 5 con) nhiều trường hợp chỉ định tính chứ không thể định lượng.
Minh Đức – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998