Nghệ thuật ứng xử (Phần 2)

Thông thường trong tình thế như vậy, con người “phách lạc hồn xiêu” chỉ còn có việc van xin, khóc lóc, mong làm mủi lòng người khác. Nhưng đấy đâu phải là tính cách của Hoạn Thư và cũng không phải là lối thoát trong tình huống như vậy. Trong tình trạng nguy khốn, Hoạn Thư vẫn còn đủ tỉnh táo tìm ra cách ứng xử, một lối thoát có tình có lý. Điều tốt nhất trước hết là phải “cúi đầu dưới trướng liệu điều kêu ca” đã:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Thư bà, bà chấp gì chút phận đàn bà như tôi với thói ghen tuông thường tình của con người. Chắc bà còn nhớ lúc bà ra Quan m Các, bà và chàng Thúc Sinh đã tự tình những gì hàng giờ và cũng đã biết tôi đã đứng nghe tỏ tường mọi nỗi nhưng tôi cố nói gì đâu. Tôi biết sau chuyện này, bà sẽ bó ra đi mà bà đã bỏ đi thật. Chẳng những thế bà lại còn mang theo những chuông vàng khánh bạc, những vật gia bảo của nhà tôi. Việc bà lén lút tự tình với chàng Thúc còn tha thứ được chứ chuyện trộm cắp là phạm pháp rồi sao mà cho qua được. Thế mà tôi đã để bà ra đi yên ổn, không đuổi theo. Vì sao vậy? Vì xưa nay đối với bà “Lòng riêng riêng những kính yếu”. Ở đây Hoạn Thư đã đề cao Kiều đúng mức, không hề tô vẽ, đúng với phẩm chất mà Kiều xứng đáng có. Nhưng những điều trên mới là tình (là xin, là kể ơn, là đề cao Kiều). Đã ra tòa, thì phải có lý, có lẽ. Lý lẽ là điểm cốt lõi của việc phán xử.
Thưa bà, lòng riêng thì như vậy, nhưng bà cũng rõ cái lẽ ở đời là: “Chồng chung chư âi dễ chiều cho ai” Hãy cứ đặt bà vào địa vị của tôi lúc bà trong vòng tay của chàng Thúc hoặc giả như bây giờ có ai đó, không phải là bà, đang trong vòng tay ông Từ Hải thì bà sẽ ứng xử ra sao?
Lỹ lẽ chắc như đinh đóng cột, một chân lý muôn thuở đối lại với lời buộc tội: “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”.
Nhưng thưa bà, dầu xoa tôi cũng xin cúi đầu nhận lỗi, chịu hết phần trách nhiệm về mình: “Trót đã gây chuyện chông gai”, nay chỉ còn hy vọng vào”… lượng bể thường vài nào chăng”.
Tôi biết bà là con người lớn, đầy lượng hải hà, mong bà gia ân. Tôi thực sự xin bà.
Trước bản bài chữa “thấu tình đtạ lý” như vậy vì chánh án, nguyên cáo tuy đã đưa ra bản cáo trạng danh thép, cũng đã vội:
“Khen cho thật đã nên rằng
Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời”
và phán quyết luôn:
“Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Lý do chính đáng để đưa ra lời phán quyết này là:
“Làm ra thì cũng con người nhỏ nhen”. Kiều đâu phải là con người tiểu nhân đắc chí. Tuy nhiên nàng vẫn phải “lên mặt” kể cả, người trên. Ừ, người đã biết tội, “đã tri quá nên” thì ta cũng sẵn sàng “tha cho thì cũng may trời”. Một phiên tòa đặc biệt xử một trường hợp đặc biệt, một bản cáo trạng đanh thép, một bản bào chữa đầy thuyết phục, một bản phán xét “tâm phục khẩu phục”, một nghệ thuật ứng xử tuyệt vời.
Không kể đến phiên tòa trước đây mà Kiều là bị cáo khi Thúc Ông thưa kiện, đưa Kiều ra tòa, chỉ riêng với phiên tòa trên, ngoài việc xem Nguyễn Du là một nhà tâm lý học lớn, còn có thể xem ông là một luật sư lỗi lạc, một nhà ứng xử học có tài?
Phạm Văn Đoàn – Sức khỏe & đời sống – Số 10 (718) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995