Chuyện buồn ngày xuân

6 em nhỏ bị chết, 6 em khác bị thương vào đầu tháng 2 năm 1998 giữa lúc xuân về chẳng phải vì pháo mà vì bom. Nguyên do các em ở ấp An Lợi – Tri Tôn – An Giang đi chăn bò nhặt được quả bom bị sót lại từ trong chiến tranh, tò mò nghịch dại khiến bom nổ đã gây nên chuyện buồn trên. Nhà trường gia đình và các địa phương nên chú ý nhắc nhở các em.

Continue reading “Chuyện buồn ngày xuân”

Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở

Từ ngày 27 đến 28 tháng 3 năm 1998 tại phân viện đại học y Hải Phòng, bộ y tế đã tổ chức Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở nhằm đánh giá công tác đào tạo bác sĩ chuyên tu trong thời gian qua và bàn biện pháp thực hiện mục tiêu chiến lược đến năm 2000 có 40% số xã có bác sĩ. Phó giáo sư Lê Ngọc Trọng, thứ trưởng bộ y tế đã tham dự và chỉ đạo nội dung hội nghị. Tham dự hội nghị còn có các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của vụ khoa học, đào tạo bộ y tế và 9 trường, khoa đại học y có đào tạo bác sĩ chuyên tu. Hội nghị khẳng định, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo các bác sĩ chuyên tu tăng cường cho tuyến y tế cơ sở, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, xem xét sửa đổi chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay.

Continue reading “Hội nghị đào tạo bác sĩ chuyên tu tuyến y tế cơ sở”

Hội nghị triển khai kế hoạch phòng chống ma túy

Ngày 30 tháng 3 năm 1998, sở y tế Hà Nội đã tổ chức Hội nghị 
phòng chống ma túy. Năm nay ngành y tế Hà Nội sẽ tổ chức cai nghiện cho hơn 2 ngàn người nghiện, điều trị cắt cơn cai tại 5 quận trọng điểm của Hà Nội là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Gia Lâm và tại 30 xã, phường 12 quận huyện. Các phương pháp điều trị sẽ được thực hiện là phương pháp điều trị lâu dài dựa vào cộng đồng, kết hợp giữa ba mặt sinh học, tâm lý và xã hội. Sở y tế Hà Nội sẽ phối hợp với công ty dược phẩm và thiết bị y tế cung ứng cho thuốc cắt cơn nghiện, trước mắt là bài thuốc HUFUSA của lương y Bùi Thị Phúc đã được bộ y tế cho phép sản xuất và sử dụng tại các trung tâm cai nghiện.

Continue reading “Hội nghị triển khai kế hoạch phòng chống ma túy”

Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 2

Ở đây cũng cần có tinh thần khách quan để nói rằng mô hình khoa học Mỹ cũng rất đặc thù, nói không thể hoặc rất khó áp dụng ở các nước khác bởi lẽ Hoa Kỳ là một nước giàu có nhất thế giới. Là thanh nam châm cực mạnh hút những nhà bác học hàng đầu từ tất cả các nước. Nó là nơi hút chất xám chứ không bị cháy chất xám. Ngoài A. Einstein, Fermi thì riêng các nhà bác học Nga sang Mỹ những hướng đi mới trong các lĩnh vực hàng không, hóa học, kinh tế học và di truyền học. Hiện nay, nền khoa học và công nghệ Mỹ về thực chất là sản phẩm tổng hợp của nền khoa học toàn thế giới. Tất cả các tài năng khoa học được phân bố đồng đều trên thế giới, nhưng nước Nga thì thật khó có khả năng tập trung các tài năng toàn cầu như nước Mỹ… Từ khi bắt đầu những cuộc cải cách thì trên thực tế, nền khoa học Nga đã thực sự sụp đổ từ trong nguyên văn. Bản thân tính chất của những thay đổi trong cơ cấu các cơ quan khoa học Nga đã làm các nhà khoa học Mỹ ngạc nhiên. Ngân sách khoa học ngày càng giảm, lúc đầu là giảm 2 lần, sau giảm tới 10 lần và 20 lần nhưng biên chế thì vẫn giữ như lúc đầu. Đồng lương của các nhà khoa học ngày càng thấp. Các nhà khoa học đầu ngành rất nổi tiếng có đồng lương từ 100 đô la Mỹ đến 200 đô la Mỹ cho một tháng, một điều không thể hiểu nổi ở Mỹ. Ở Nga vào những năm 80 có khoảng 1,5 triệu nhà khoa học tập trung ở 3 kim tự tháp là 1 hệ thống các viện hàn lâm khoa học các ngành, độc quyền nắm các ngành khoa học cơ bản và không có các mối liên hệ làm việc với sinh viên như ở Mỹ. Hệ thống giáo dục cấp cao ở Ngay, thành phần các nhà khoa học đông gấp 4 lần, ngân sách ít hơn 5 lần so với hệ thống trên. Hệ thống khoa học ứng dụng ở các bộ kể cả tổ hợp công nghiệp quân sự, số nhà khoa học ở hệ thống này bằng số nhà khoa học của cả 2 hệ thống trên và được ưu tiên về ngân sách nó nuốt tới 80 phần trăm tổng ngân sách cho sự phát triển khoa học. Loren R. Graham cho rằng đây là những hình thức tổ chức khoa học đã cũ kỹ lắm rồi. Việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 không những gây ra sự bùng nổ mới những chú ý và quan tâm đối với Liên Xô mà nó còn thực sự thúc đẩy Mỹ phải mau chóng đổ tiền của vào tất cả các lĩnh vực khoa học Mỹ. Theo các chuyên gia phương tây nước Nga cần phải nhất thể hóa 3 kim tự tháp đó lại nếu không thì vẫn như trước đây, nó xảy ra một quá trình kỳ quặc là sự ra đời của tất nhiên viện, ban, phòng, trung tâm khoa học mà hiệu quả rất ít. Nạn chảy máu chất xám cũng là vấn nạn mà nền khoa học Nga đã nếm trải. Nói cho cùng thì hiện nay nền khoa học Nga không chỉ trông đợi ở một cơn mưa tiền mà còn cố gắng gượng để tồn tại. Có như vậy nền khoa học kỹ thuật mới phát triển mạnh.

Continue reading “Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 2”

Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 1

Loren R. Graham giáo sư Trường đại học công nghệ Massachusette là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử nền khoa học và công nghệ Xô Viết, về lịch sử Viện hàn lâm khoa học Liên Xô và về số phận của nhiều nhà khoa học danh tiếng của Liên Xô. Người ta xem ông là chuyên gia có uy tín lớn nhất trong lĩnh vực này. Đặc biệt là ông luôn hứng thú vấn đề về mối liên hệ qua lại giữa triết học của Mác với nền khoa học ở Liên Xô. Loren R. Graham thừa nhận rằng đối với những người Bôn-sê-vich, khoa học và kỹ thuật là một yêu cầu đặc biệt và Lê Nin đã hoàn toàn đúng. Lê Nin đã trang bị cho xã hội mình những thành tựu Khoa học kỹ thuật của phương Tây. Quả thật nền khoa học xô viết đã từng đạt được những thành tựu huy hoàng mà cả thế giới đã từng biết đến. Khoa học Xô Viết đã dẫn đầu thế giới về nhiều lĩnh vực vật lý Plazma, địa chấn học lý thuyết, khí hậu học, nhiều lĩnh vực toán học lý thuyết và ứng dụng, hóa học chất rắn, kim loại học… Sự chú ý và hứng thú của các nhà khoa học và các chính khách phương tây đối với với tiềm năng của nền khoa học Xô Viết chủ yếu phát sinh từ sau những thành công của các dự án nguyên tử, đặc biệt là trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 không những gây ra sự bùng nổ mới những chú ý và quan tâm đối với Liên Xô mà nó còn thực sự thúc đẩy Mỹ phải mau chóng đổ tiền của vào tất cả các lĩnh vực khoa học Mỹ. Có thể nói ở nửa đầu thế kỷ 20, các nhu cầu quân sự của các nước là một động lực của sự phát triển khoa học và công nghiệp. Trong những năm 1945 đến năm 1950, nước Mỹ được nhìn nhận không phải như một hình mẫu để bắt chước mà như một quốc gia xuất phát của mối đe dọa chiến tranh nguyên tử. Chính sách của Tổng thống G. Truman thời bấy giờ là duy trì sự độc quyền nguyên tử. Sự bắt đầu của đối đầu và chiến tranh lạnh đã là động lực chủ yếu phát triển hướng nghiên cứu. Chính vào thời điểm đó, trong cơ cấu của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô thì vật lý có vai trò dẫn đầu, còn trong các khoa học ứng dụng thì ưu tiên thuộc về công nghiệp quân sự. Do sự hạn chế về tài chính về các nguồn lao động và kỹ thuật, bị chiến tranh tàn phá, lại phải tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên nên nhiều lĩnh vực khoa học dân sự của Liên Xô bị đưa xuống hàng thứ hai và chậm bước so với thế giới. Mô hình khoa học Xô Viết, do đó có nét đặc thù, các nhân tố cách mạng và chiến tranh trở nên quan trọng hơn là các nhân tố khác.

Continue reading “Nền khoa học nga qua cách nhìn của một nhà khoa học mỹ – phần 1”

Có hay không sự tồn tại của tivi led giá rẻ?

Tivi LCD với công nghệ truyền thống đang dần bị thay thế bởi tivi LED hiện đại. Các hãng tivi bao gồm các ông lớn như Sony, Samsung… hay thậm chí là một số hãng tivi mới ra đời cũng đang đẩy mạnh đầu tư và sản xuất dòng tivi LED. Một thắc mắc được đa số người tiêu dùng đồng ý đó là liệu giá thành tivi led có rẻ không. Để giải đáp cho thắc mắc này, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về dòng sản phẩm này trong bài viết ngay sau đây.

Continue reading “Có hay không sự tồn tại của tivi led giá rẻ?”

Vì sao mao trạch đông nhìn trúng giang thanh

Mặc dù Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đồng ý để Mao Trạch Đông lấy Giang Thanh nhưng do còn lo lắng về phẩm chất cá nhân của bà ta. Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc cho rằng cần thiết phải có mấy điều quy định nhằm xác minh địa vị của Giang Thanh trong đảng. Quân đội Quốc dân đảng năm 1947, khi vào Diên An có thu được của Vương Nhược Phi lúc đó là Bí thư trưởng Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc một cuốn sổ tay trong đó ghi nội dung ước pháp tam chương như sau: khi quan hệ vợ chồng giữa Mao Trạch Đông còn chưa chính thức giải trừ, đồng chí Giang Thanh không thể cho mình là phu nhân của Mao Trạch Đông. Đồng chí Giang Thanh phụ trách việc chăm sóc sinh hoạt hàng ngày và sức khỏe của đồng chí Mao Trạch Đông, từ nay trở đi không ai có quyền nêu yêu cầu tương tự như vậy với Trung ương Đảng. Đồng chí Giang Thanh chỉ quản lý sinh hoạt tư nhân và sự vụ của đồng chí Mao Trạch Đông, trong phạm vi 20 năm, cấm đảm nhiệm bất kỳ chức vụ nào trong đảng, đồng thời không được can thiệp đòi hỏi han về nhân sự của đảng và tham gia sinh hoạt chính trị. Vì Trung ương đảng đã có đồng ý, ngày 20 tháng 11 năm 1938, Giang Thanh 24 tuổi đã kết hôn với Mao Trạch Đông 45 tuổi. Sau khi kết hôn với Mao Trạch Đông quả thật trong thời gian hơn 20 năm, Giang Thanh không hề tham chính và cũng không xuất đầu lộ diện nhiều. Nói một cách thực sự cầu thị, trong thời gian này, Giang Thanh đã làm hết trách nhiệm của mình là chăm sóc Mao Trạch Đông. Bà ta đan áo len cho Mao Trạch Đông, làm cho ông những món ăn rất cay. Trước mặt các vị khác, Giang Thanh rất chú ý đến thân phận mình, bà ta rất ít tham gia các cuộc nói chuyện giữa Mao Trạch Đông và chiến hữu. Có khách đến, bà ta mỉn cười gật đầu, rồi hoặc mời thuốc lá, hoặc pha chè, hoặc mời đĩa lạc rang, sau đó đi về phòng mình. Chính vì thế mà một phóng viên nước ngoài đã ghi lại ấn tượng đối với Giang Thanh: “Bà ta thẳng thắn mà khách khí, rất giống vợ hiền mẹ tốt thông tình đại lý”. Điều đó cho thấy vị diễn viên đã từng diễn xuất thành công vai người phụ nữ Na la làm phản đi khỏi gia đình, lúc này lại cũng thành công khi đóng vai người phụ nữ Phương Đông điển hình vợ hiền mẹ tốt hoàn toàn ngược lại vớ Nala. Năm 1940, Giang Thanh sinh Lý Nột. Lý Nột hoạt bát đáng yêu, làm cho căn nhà của Mao Trạch Đông tràn đầy tiếng cười vui vẻ, địa vị đệ nhất phu nhân của Giang Thanh do đó mà càng được củng cố… Còn những việc làm xấu xa, đầy tội ác của bà ta trong cách mạng văn hóa, lại là việc của gần 30 năm sau. (Theo hồ sơ các vị phu nhân cán bộ cao cấp Trung Quốc xuất bản tháng 10 năm 1998).

Continue reading “Vì sao mao trạch đông nhìn trúng giang thanh”

Tự chặt mình

Thường chỉ những người tâm thần không ổn định mới tự gây bệnh tật cho mình thế nhưng mới đây có người thần kinh bình thường vẫn tự vác dao chặt tay mình. Đó là ngày 31 tháng 10 năm 1999 Nguyễn Văn T nhà ở quận Đống Đa, xin mẹ tiền mua heroin để hít. Mẹ không cho Nguyễn Văn T đã vác dao tự chặt bàn tay trái gây viết thương nóng tay. Âu cũng là điều đáng để suy ngẫm.

Continue reading “Tự chặt mình”

Những khoảng khắc rất ý trong kịch múa bài ca biển cả

Mở ra với ngôn ngữ múa đầy sức dẻo và dưới trong sự im lặng của âm thanh, sự đục mờ của ánh sáng sân khấu, bốn nữ nghệ sĩ ballette của nước Ý đã khiến ta ngạc nhiên bởi sự mới mẻ, bởi cái mê cung thăm thẳm đầy cuốn hút, đầy quyền uy mà biển cả muôn đời đã khẳng định. Rồi tiếng động khàn đục. Rồi tiếng kêu lào xào. Sự sống mong manh cứ như bị lịm đi, bị tan chảy trong không gian mặn gió. Các nữ nghệ sĩ đã tự tỏa sáng bằng hình thể, bằng những chợt nhòa, chợt khắc của đường nét. Họ thật tự tin vang lên cái vô thanh của mình. Ba nghệ sĩ nam lại làm ra một cái gì tương phải, một sự gắng níu kéo cái đang mất dần đi. Một nghệ sĩ mặc đồng phục nâu sồng may kiểu ta như thầm gợi những thoát thiển rất cần trong hữu hình tồn tại. Họ vừa cứng rắn, vừa mềm yếu. Vừa cuồng bức, vừa chơi vơi. Biển cứ thế đơn độc với vài dáng người, vài cánh chim hải âu heo hút. Rồi cuộn sóng mong manh lại trào dâng, lại xâm chiếm trong tiếng da diết của cây đàn violoncello trầm trầm những giai điệu màu thánh ca của J. S Bach. Vở kịch múa vì thế mà hấp dẫn ta từ tốn, chầm chậm như sức ngấm của rượu vang Cinzano đích thị của nước Ý. Qua những phân vân, vũ trụ trở nên sáng sủa hơn khi con người hiểu và cảm nhận được nó. Âm nhạc nghi lễ của điệu Saraban trang trọng giữa cây đàn violoncello với dàn dây điệu nghệ. Lời giới thiệu quả không ngoa bài ca với ngôn ngữ hình thể này đã đặt mỗi diễn viên ứng với mộ phần phổ để tự do phát triển thành một trạng thái chuyển động mong manh với các đối ấm, các lớp ước hiện ứng kế tiếp với sự thuyết minh của điệu bộ dường như mất phương hướng, mất cân bằng, trong không gian. Đó là quan niệm mong manh của phận người trong vũ trụ bao la. Những bất thường vẫn tỏa ra sàn diễn. Các hình thể vẫn lao xao như sóng. Virgilo Sieni tác giả biên đạo đồng thời là nghệ sĩ ông tây mặc áo nâu ta đã thành công trong việc ẩn giấu sau ngôn ngữ múa một ý tưởng sâu sắc. Có điều là dù gọi rằng đây đích thị một kịch múa hiện đại thì vẫn thấy tốc độ chậm, sự trình bày rất cổ điển, của từng câu, mặc dù từng chữ lại rất mô đéc. Mới thấy sáng tạo thật khó, càng thấy thật khó và thương cho cái gọi là nền múa bé nhỏ vô cá tính của ta luôn sống dựa vào hơi thở của âm nhạc vốn cũng chẳng hay ho gì. Múa trong sự im lặng đấy là một thách đố mà bài thơ biển cả mang đến cho chúng ta.

Continue reading “Những khoảng khắc rất ý trong kịch múa bài ca biển cả”