Giới thiệu Trước tác

Sửa đổi lối làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh
Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Chúng tôi xin giới thiệu tiếp với bạn đọc các mục “3 phải giữ kỷ luật mục. Đối với các hạng đảng viên trong nội dung của phần “B phận sự của đảng viên và cán bộ”: Nội dung của hai mục nhỏ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích hết sức khoa học về mối quan hệ giữa đảng viên với toàn Đảng và dân tộc, Tổ quốc. Người chỉ rõ:
“Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng. Không ai bắt buộc vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. Nhất là những cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đứng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo… Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường thì chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng có hại đến nhân dân. Trong nội dung của mục 5. Những khuyết điểm sai lầm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nguyên nhân của những khuyết điểm sai lầm đều có nguồn gốc từ chủ nghĩa cá nhân. Và người vì chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng sinh ra nhiều thứ bệnh những bệnh đó như sau:
Bệnh tham lam những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ tự tư tự lợi. Dùng của công làm của tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu sài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra. Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình..
Bệnh lười biếng: Tự cho mình là cái gì cũng giỏi cái gì cũng biết. Làm biếng học hỏi làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.
Bệnh kiêu ngạo: Tự cao tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi người khác, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.
Bệnh háo danh: Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ chứ không ham công tác thiết thực.
Thiếu kỷ luật: Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên. Vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.
Óc hẹp hòi: Ở trong Đảng thì không cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mính. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.
Óc địa phương: Bệnh này tuy không xấu bằng các bệnh kia, nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ…
Óc lãnh tụ: Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Cố nhiên, Đảng ta mong có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ được dân tin, dân phục vụ, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý đảng, của dân tộc. Song những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện mà ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra, chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ làm anh hùng mà được. Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy, và yêu mến những kẻ tự cao tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng lãnh tụ.
Ngô Trường Huy-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 53(865)1998

Thì?…

Thì chị sẽ xử sự thế nào?
Tôi ư? Còn xử với sự gì nữa? Một người chồng mình đã không còn yêu mình, đã say tình người khác, thì còn gì để bàn? Tôi thì: tôi bỏ qua ràng buộc nhau làm gì? Vô nghĩa!
Thế còn chị!
Tôi ư? Chúng tôi đã có con. Tôi có thể mất chồng, con tôi không thể mất cha. Tôi thì đấu tranh đến cùng. Phân tích để anh ấy thấy rằng anh ấy làm như vậy là vi phạm đạo đức, là vi phạm quyền lợi, tình cảm của gia đình, nhất là của trẻ thơ. Anh ấy cũng là một cán bộ có trình độ. Tôi tin là anh ấy sẽ hiểu và sẽ trở lại với vợ con.
Hoan nghênh chị. Thế còn chị?
Tôi ư? Tôi yêu anh ấy lắm! Có con hay chưa có con, tôi cũng không thể mất anh ấy được. Tôi thì tôi sẽ để công thăm dò, theo dõi. Kẻ vụng trộm đã bị bắt quả tang nhất định phải run. Lúc ấy tôi sẽ tỏ ra rất là cao thượng tha cho đối thủ, như vậy vẫn giữ được bí mật. Danh dự các bên không bị tổn hại. Chồng mình vẫn là chồng mình, sau khi người tình vụng trộm được tha bổng, anh ấy không thể không cảm ơn tôi và không thể không hối hận về hành đồng của mình, vì vậy làm sao có thể bỏ tôi được, hơn nữa chúng tôi trước đây rất yêu nhau. Sai lầm chỉ là nhất thời. Vả lại lỗi đâu phải hoàn toàn do anh ấy: “Con cái không đuôi, con đực chẳng đến gần”. Dằn mặt đối thủ xong, tha bổng. Củng cố hạnh phúc của mình là xong. Rất cảm ơn chị, chị rất tỉnh táo, và rất yêu chồng. Thế còn chị? Tôi ấy à? Một đứa phụ bạc, một đứa ăn cắp tình của mình. Tôi thì: chẳng việc gì phải bỏ hay không bỏ, chẳng việc gì phải phân tích phân tung, chẳng việc gì phải trả lời mà cũng chẳng việc gì phải phi công thăm dò theo dõi. Cứ quẳng cho mấy đứa ít tiền, cho con đĩ ăn axit, thằng ngô ăn vài vết dao vào mặt cho chúng mở mắt, cho mình hả cái dạ. Mọi chuyện hạ hồi phân giải. Nghe chị nói ghê quá. Chị không sợ pháp luật sao? Thế còn em?
Em ấy ạ? (Cô gái bèn lên, cô ngước nhìn đàn chị, cô cúi đầu e ngại một chút rồi mạnh dạn lên tiếng): em thì … bọn em mời cưới. Em biết anh ấy yêu em vì những điểm nào. Nhưng nếu chẳng may một ngày nào đó anh ấy đặt tình cảm vào người khác. Chắc chắn em sẽ rất đau khổ. Nhưng khi anh ấy yêu, nhất định người đó phải có cái gì đấy hấp dẫn. Em sẽ xem xét kỹ lưỡng. Nhất là xem lại mình, em sẽ tự hoàn chỉnh để mình đáng yêu hơn. Em muốn có tình yêu thực sự và tự nguyện. Nếu mình chưa đáng yêu mà trách giận người khác em cảm thấy như mình không xứng đáng và cứ thấy ngường ngượng thế nào ấy…! Có thể là em sai? Em xin lỗi… nhưng…. Rồi yên lặng, rồi suy ngẫm. Sự yên lặng dành cho chữ thì:… riêng và chữ thì… chung. Cảm ơn chị em. Mới tản mạn chữ thì trên lĩnh vực tình cảm và tâm sự của vài chị em mà đã gây cấn, phong phú. Đã có thể rút ra một cái đấy cho chị em và cả các đáng mày râu. Giá có nhiều chữ thì trên nhiễu lĩnh vực.. giá có nhà học giả nào để công làm một cuốn sách tậ hợp các tình huống cho riêng một chữ thì… thì hay biết mấy?
Đối chất
Người ấy kiện ra tòa tay lái xe ô tô đã đâm ô tô vào ông ta khi ông ta đang cưỡi lừa đi bên lề đường. Luật sư của người lái xe xin phép hỏi: Thưa ngày Smit, ngài đã nói hết tình tiết sự việt. Theo biên bản tai nạn giao thông, ngài có nói với điều tra viên rằng: “May quá, tôi không hề hấn gì”. Thưa! Có thực ngài nói vậy?
Thực chứ sao không! Cảnh sát đến thấy con lừa của tôi hầu như bị giật nát 2 đùi sau. Viên cảnh sát rút súng bắn đoàng một phát theo đúng tinh thần thượng võ để đỡ đau đớn vô ích cho con vật. Rồi cảnh sát hỏi ngay tôi: “Ông có hề hấn gì không?”. Tôi chỉ giật mình, kiểm lại toàn thân không bị đạn làm sờn da chút nào nên trả lời: “May quá, tôi không hề hấn gì!”. Đến đây, luật sư của người lái xe nói: Thưa, vậy là tòa đã nghe rõ lời người bị hại, tôi không hỏi thêm gì! (An Thúy – Theo tạp chí độc giả Trung Quốc 99.4)
Sự tưởng tượng đó sẽ dẫn Sherlock Holmes đến một giả thuyết có xác suất thực tiễn lớn nhất, hoặc nói cách khác, sau khi loại trừ những giả thuyết khác thì giả quyết còn lại chính là vấn đề mà ta tìm kiếm, cho dù giả thuyết đó có thể vô lý tới mức nào chăng nữa. Sherlock Holmes đã thực hiện hoàn chỉnh nguyên tắc đó với đầy đủ khía cạnh đạo lý của mình. Anh là kẻ thù của bọn tội phạm và là người bạn của nhân dân lao động. Đã không ít lần, Sherlock Holmes tự cho phép mình vượt lên trên luật pháp nước Anh để đột nhập trái phép vào nhà một tên tống tiền hoặc bỏ qua tội trạng cho những đối tượng mà anh xác định rằng động cơ phạm tội của họ là trừ khử cái ác. Tính thiện trong con người của Sherlock Holmes là như thế… Cho đến nay và có lẽ rất lâu sau này, những tác phẩm của Conan Doyle vẫn còn được nhớ đến và mang giá trị nhân bản, nghiệp vụ và dự báo.
Nguyễn Thị Vân-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 57(869)1998

Cần quản lý những người bán thuốc

Ở Hà Nội, hiện có khá nhiều cửa hàng thuốc tư nhân được Sở y tế Hà Nội cấp giấy phép. Tất cả các cửa hàng này đều do các dược sĩ hoặc đứng tên hoặc cho thuê với giá từ 200 nghìn đồng đến 300 nghìn đồng một tháng. Nhưng điều mà người dân còn bâng khuâng liệu bao nhiêu người trong số những người đang đứng bán ở quầy có bằng dược sĩ hay dược tá gì chưa? Họ là người có chuyên môn hay chỉ là cô bé vừa quê ra, chẳng biết gì về thuốc cả nhưng được cái ngoan hiền, nhanh nhẹn như lời chị bạn có cửa hàng thuốc gần cổng bệnh viện Bạch Mai từng nói. Phải thừa nhận rằng, ngày càng có nhiều các loại thuốc, từ thuốc nội đến thuốc nhập ngoại làm phong phú thêm thị trường thuốc chữa bệnh. Chính vì vậy, các cô nhân viên đứng bán hàng không thể nhớ hết những biệt dược và công dụng của thuốc. Tôi đã từng được chứng kiến một cô bán hàng ở phố Nguyễn Ngọc Nại – Thanh Xuân – Hà Nội đứng xớ rớ trước tủ thuốc cao ngất tìm loại Opizoic thuốc trị tiêu chảy ở ngăn có chữ kháng sinh. Bản thân những cô nhân viên này chỉ được đào tạo sơ sơ, cô nào khá thì được học dược tá.. cấp tốc. Nhưng vì trăm hay không bằng tay quen, vì lợi nhuận, và vì chính sự lỏng lẻo của người quản lý nên họ cứ thoải mái đứng bán quầy thuốc. Người tiêu dùng không biết gì đã đành, trong mong vào họ thì lại cũng I tờ nốt. Vì thế đứng trước hàng trăm thứ thuốc, hàng nghìn biệt dược… thì chuyện bán nhầm thuốc gây ngộ độc, thậm chí dẫn đến tử vong đối với người tiêu dùng như ta đã từng thấy là lẽ đương nhiên. Được biết, hàng năm Trường trung học y tế Hà Nội ở phố Đoàn Thị Điểm có kết hợp với Bộ giao thông vận tải mở lớp học Dược tá tại Công ty Traphaco với thời hạn 9 tháng đến 1 năm. Nhưng mỗi khóa chỉ đào tạo được 70 đến 100 người. Trong khi đó, chỉ tính riêng trên địa bàn thành phố số cửa hàng thuốc có giấy phép kinh doanh đếm không hết. Đã đến lúc Sở y tế Hà Nội và các ban ngành có liên quan phải kiểm tra, thanh tra những người đứng bán thuốc tại các cửa hàng, để người dân thoát khỏi tâm trạng lo âu phập phòng mỗi khi tới cửa hàng mua thuốc.
Y đức phương tây qua các lời thề và tuyên ngôn
(thời cổ đại)
Lời thề y khoa
“Ôi Chúa trời, hãy làm cho tâm hồn tôi đầy yêu thương đối với nghề y và mọi loài. Hãy đừng để cho sự khao khát lợi lộc và sự đi tìm danh vọng ảnh hưởng tới sự hành nghề của tôi. Bởi vì những kẻ thù của sự thật và của lòng yêu thương nhân loại, có thể dễ dàng lợi dụng tôi và làm tôi xa lánh nhiệm vụ cao quý là làm điều tốt cho con cái của người. “Người hãy nâng đỡ sức mạnh của trái tim tôi để nó lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ người nghèo và người giàu, người bạn cũng như kẻ thú, người tốt và người xấu. “Người hãy làm để tôi chỉ nhìn thấy con người trong kẻ nào đau yếu”. “Cầu xin trí óc tôi được minh mẫn, bên giường người bệnh, nó không bị những tư tưởng xa lạ làm sao nhãng, để nó nhớ lại tất cả những gì là kinh nghiệm khoa học đã dạy tôi. Bởi vì, thật là to lớn và cao cả những công trình nghiên cứu khoa học có mục đích bảo vệ sức khỏe và sự sống của mọi loài. Hãy làm cho bệnh nhân của tôi tin tôi về nghề y, cho họ theo những lời tôi khuyên và những đơn thuốc của tôi”. “Hãy đuổi ra xa những ông lang băm, những bà con thân thích của người bệnh với hàng nghìn lời khuyên, những người canh gác mà cái gì cũng biết, bởi vì đây là một bầy đàn nguy hiểm mà bằng háo thắng sẽ làm thất bại những ý đồ tốt nhất của ngành Y và thường dẫn bệnh nhân đến tử vong. “Nếu những kẻ ngu dốt quở trách tôi, chế nhạo tôi. Người hãy làm cho yêu mến nghề nghiệp trở thành áo giáp giúp tôi bất khả xâm phạm để tôi kiên trì trong sự thật, bất chấp uy lực, danh tiếng, địa vị của những kẻ thù của tôi”. Người hãy cho tôi lòng rộng lượng và sự kiên nhẫn đối với những bệnh nhân cứng đầu và thô bỉ. Hãy làm cho tôi có điều độ về mọi mặt, nhưng còn đam mê khoa học thì không bao giờ cạn”. Hãy gạt ra xa tôi ý nghĩa là cái gì cũng làm được. Hãy cho tôi một sức mạnh, ý chí và cơ hội mỗi ngày mỗi mở rộng kiến thức. Ngày hôm nay, tôi có thể khám phá những gì mà ngày hôm qua tôi không ngờ là có bởi vì nghệ thuật y khoa thật là rộng lớn, còn trí óc con người thì lúc nào cũng muốn tiến sâu hơn nữa.
Thu Nguyên-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 57(869)1998

Bệnh bưng bít

Biểu hiện của căn bệnh này là không dám công khai. Núp dưới chiêu bài bảo vệ bí mật, tất cả những khuyết điểm, sai phạm tội lỗi, nhưng đặc quyền, đặc lợi… đều bị giữ trong vòng kín mít. Ta hãy xem một số biểu hiện của bệnh này. Một cán bộ mắc khuyết điểm nếu được lòng cấp trên, ắt sẽ được che chắn. Khuyết điểm sẽ được ém nhẹm, để xử lý nội bộ một cách êm thấm. Một quan chức có cậu ấm phạm tội, chí ít là đua xe, cao hơn là cướp giật để hút chít, bị công an bắt. Lập tức còn những lá thư tay, những cú phôn gỡ cho cậu, nhẹ nhàng kéo cậu ra khỏi nơi tam giữ của công an, khiến những người trung thực có cơ quan bảo vệ pháp luật phải ngỡ ngàng, ngán ngẩm. Các phi vụ kinh donah thua lỗ làm thất thoát bạc tỷ của nhà nước, các cuộc tiếp khách tốn tiền bạc triệu ở nhà hàng, khách sạn, các đặc ân mà các xếp ban phát cho cấp dưới ai được nấy biết chớ bép xép… đều kín như bưng. Trên không biết, dưới không hay. Mặc dù có luật báo chí nhưng mọi nơi nọ nơi kia vẫn, ngăn cản phóng viên, tịch thu phương tiện hành nghề, đe dọa, nhà báo, cấm tiếp xúc với phóng viên… Nhưng bản thân báo chí cũng có lúc mang bệnh che giấu khi nêu sai phạm ở cơ quan X, tỉnh Y, huyện Z… nghĩa là chửi đổng không địa chỉ, trái với tinh thần công khai dân chủ… và dân chủ… Tác hại của bệnh này là thật là to lớn. Nó làm tiêu cực phát triển, sự gian dối hoành hành, làm tha hóa cán bộ, làm mất lòng tin của dân, làm xã hội mất lành mạnh, dân chủ. Cách chữa là đơn thuốc căn bệnh này rất đơn giản, chỉ cần hai chữ công khai. Tất nhiên ta chỉ công khai điều gì có lợi cho dân cho nước, nhưng phải phân biệt cái lợi chung và cái lợi riêng của những vị quan chức. Vẫn phải bảo vệ những bí mật về chính trị, quốc phòng, kinh tế, khoa học kỹ thuật… nhưng đừng bảo vệ bí mật về sai phạm của các vị quan chức. Chẳng hạn nên chăng công khai đăng tải các lá thư tay, các cú phone, cú điện thoại để gỡ tội cho các cậu ấm. Hai là hại cho cá nhân các quan chức đó vì nó làm lộ mặt xấu của họ, nhưng lợi cho dân cho nước nhiều lắm chứ. Có điều lạ chúng ta hô hào chống tiêu cực, nhưng chưa dùng đếm một phương thuốc, một vũ khí lợi hại: Công Khai.
Tai nạn do rơi quạt trần
Phòng cấp cứu khoa ngoại thuộc Trung tâm y tế Hải Hậu – Nam Định vừa tiếp nhận cháu Nguyễn Văn Nghiệp 4 tuổi là con anh Nguyễn Văn Phưởng, ngụ tại xóm 4, xã Hải Bắc, Hải Hậu, Nam Định bị vết thương rách da cơ, màng xương vùng đỉnh đầu, để lộ rõ xương hộp sọ… Nguyên nhân do cháu Nghiệp cùng gia đình ngồi ăn cơm dưới quạt trần đang quay – quạt điện cơ nặng khoảng 7 kg, bỗng chốt an toàn của quạt đột ngột bị đứt làm quạt văng rơi xuống phía sau lưng cháu Nghiệp, cánh quạt chém vào đỉnh đầu gây thương tích nặng, gia đình kịp thời đưa cháu đến bệnh viện Hải Hậu cấp cứu. Sau 3 ngày điều trị, cháu tỉnh táo, vết thương ổn định. Rất may, quạt không rơi giữa mâm cơm. Nếu không thì hậu quả sẽ còn nặng nề hơn. Mong rằng, mọi gia đình thường xuyên kiểm tra móc sắt, trục ngang, chốt, điểm nối dây quạt.. sao cho an toàn, tránh sự nguy hiểm xảy ra.
Tú Xuân-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 56(868)1998

Bệnh sán lá gan

Đến nay, tại ít nhất 13 tỉnh có bệnh sán là gan lưu hành từ 0,3% đến 36,9%, trung bình 21,5%. Đó là Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Tây, Thanh Hóa, Thái Bình, Hòa Bình, Nghệ An, Phú Yên, Đắc Lắc, và Hà Giang. Trong đó bệnh lưu hành nặng ở Nghĩa Hưng – Nam Định, Kim Sơn – Ninh Bình, và Tuy An – Phú Yên có nhiều xã ở các vùng này, tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên 30% dân số. Chủng loại sán lá gan ở Việt Nam là Clonorchis sinensis của miền Bắc và miền Nam. Năm 1999, với dự án hợp tác với vương quốc Bỉ, Viện sốt rét, KST và chương trình đã điều tra ngẫu nhiên trên toàn tỉnh Hòa Bình, tất cả các huyện, thị đều có bệnh sán lá gan. Tại tất cả những địa phương trên, nhân dân có tập quán ăn gỏi cá, tuy rằng ở mức độ rất khác nhau, thậm chí cách ăn cũng khác nhau. Các tỉnh miền Bắc tập quán ăn gỏi cá bằng cách thái nhỏ thịt cá, trộn thính và gia vị. Còn ở Phú Yên ăn gỏi sinh cầm nghĩa là ăn cả con cá còn sống thả trong chậu, tập quán này có lâu đời, từ thời vua quan phong kiến ngồi ngắm trăng, bình thơ và dùng nó nhỏ vớt từng con cá điêc trong chậu để ăn gỏi cùng với đủ loại lá thơm, sau đó thành thói quen khó bỏ cho đến tận bây giờ. Qua phỏng vấn cư dân trong vùng dịch tế sán lá gan cho thấy hầu hết bà con cho rằng ăn gỏi là mát và bổ, có địa phương còn có câu nắng gỏi, mưa cầy nghĩa là trời nắng thì ăn gỏi cá, trời mưa thì ăn thịt chó. Ở miền Bắc chủ yếu ăn gỏi cá mè và qua điều tra cá mè có tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan cao nhất. Ví dụ cá mè ở ao cạnh nhà có bệnh nhân bị sán lá gan có tỷ lệ mang ấu trùng là 92%. Có người cho rằng ăn gỏi loại cá khác sẽ an toàn hơn, nếu quan niệm như vậy thật là nguy hiểm vì qua điều tra 10 loài cá trong ao thì có 7 loài mang ấu trùng sán lá gan. Để phòng bệnh sán lá gan, tốt nhất là không ăn gỏi cá hoặc cá nấu chưa chín kỹ, vì một số người trong vùng dịch tễ sán lá gan tuy không ăn gỏi cá nhưng cá rán chưa kỹ, thịt cá còn sống cũng bị bệnh sán lá gan, không nên coi món gỏi cá như là món ăn truyền thống hay đặc sản.
Bệnh trĩ
Hỏi: Cháu 21 tuổi, từ 2 năm nay thường đi ngoài ra máu tươi, phân táo, đại tiện hơi đau. Bệnh có nhiều hướng tăng lên, nhiều khi cháu không dám ăn nhiều. Vậy cháu bị bệnh gì, cần uống thuốc gì? Nguyễn Cao Tân – Phòng 108 C1b, ký túc xá Đại học TH Hà Nội. Có thể cháu bị bệnh trĩ, mà táo bón là nguồn gốc dẫn đến bệnh đó. Vì bị táo đi tiêu thường xuyên phải rặn nhiều. Do áp lực rặn trong lúc đại tiện khó khăn các bộ phận nâng đỡ các tổ chức trĩ dây chằng, cơ, xơ bị giãn dần trở thành lỏng lẻo, các búi trĩ vốn bình thường bị đẩy xuống dưới và dần dần ra hẳn ngoài lỗ hậu môn. Sự chèn ép này hạn chế luồng máu tĩnh mạch về, trong khi máu động mạch vẫn đến. Qúa trình đó trở thành vòng luẩn quẩn, tiếp diễn lâu dài, búi trĩ ngày càng lớn dần và càng bị đẩy ra ngoài. Máu chảy khi đi tiêu là do cục phân cọ xát vào niêm mạc làm tổn thương các huyết quản nơi búi trĩ lúc này đang xung huyết vì máu động mạch đến quá nhiều, vượt sức chứa, đồng thời đường máu về bị nghẽn tắc. Thông thường máu chỉ ra ít, màu đỏ tươi khi chùi thấm giấy vệ sinh, hoặc máu tưới lên cục phân từng giọt. Một số ít trường hợp máu có thể ra nhiều như cắt tiết gà, xảy ra trong khi đại tiện. Cháu cần đi khám bệnh tại chuyên khoa tiêu hóa của bệnh viện để chuẩn đoán đúng, thầy thuốc sẽ chọn phương pháp điều trị thích hợp điều trị nội khoa, điều trị bằng phương pháp tiêm xơ, thắt trĩ bằng vòng cao su, hoặc phẫu thuật cắt bỏ túi trĩ với bệnh trạng. Trước mắt cháu cần gìn giữ vệ sinh vùng hậu môn, ăn ít gia vị, không uống rượu, tránh dùng nhiều cà phê và nước trà đặc, ăn nhiều chất xơ chống táo bón. Cần tập thể dục thể thao đều đặn, chú ý các động tác làm tăng trương lực cơ bụng.
Áo giáp chữa bệnh nhạy cảm với ánh sáng
Cháu bé Mỹ 9 tuổi, có tên Pake bị hiểm nghèo nhạy cảm với ánh sáng mặt trời do bẩm sinh gen không bình thường. Căn bệnh khó chữa này đã được cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ thiết kế riêng cho em một bộ quần áo vũ trụ có tác dụng điều hòa không khí giá khoảng 2 nghìn đô la Mỹ để em có thể hoạt động bình thường bên ngoài nhà ở. Trong hình là bé Pake trong bộ quần áo vũ trụ xuất hiện tại trường học trước các bạn bè cùng lớp. Thay mặt lãnh đạo Bộ y tế, phó giáo sư tiến sĩ Lê Ngọc Trọng, Thứ trưởng biểu dương cán bộ, công chức ngành y tế Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhất là việc tổ chức trực cấp cứu và tiếp đón, giải quyết đối với bệnh nhân đến bệnh viện do không biết, đồng thời hoan nghênh ngành y tế Hà Nội giải quyết chế độ trực ngày thứ bảy theo Thông tư liên bộ số 150.
PTS Nguyễn Văn Đề-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 56(868)1998

Người bác sĩ có tấm lòng nhân hậu

Tốt nghiệp trường Đại học y Hà Nội từ những năm 1960, bác sĩ Nguyễn Thị Dụ được giữ lại làm giáo viên giảng dạy tại trường. Trải qua hơn 30 năm công tác, chị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và được đồng nghiệp và bệnh nhân hết lòng tin yêu. Năm 1974 chị về công tác tại khoa A9 bệnh viện Bạch Mai, khi đó A9 mới có 6 giường bệnh với vài bác sĩ, y tá. Công việc ở A9 là cấp cứu bệnh nhân nặng, chị và anh em luôn bận rộn, căng thẳng bất kể ngày đêm, toàn những bệnh nhân thập tử nhất sinh từ các nơi dồn đến. Đây là tuyến cấp cứu cuối cùng, mỗi khi có bệnh nhân vào cấp cứu là một trận chiến mới của các y bác sĩ. Người nào, việc ấy, tất cả máy móc, các kỹ thuật chuyên môn được đem ra áp dụng để chuẩn đoán nhanh, điều trị sát, bệnh nhân được theo dõi 24 trên 24. Là người lãnh đạo, chị gương mẫu làm đủ các chức năng của người hộ lý, y tá cũng như công việc điều trị bệnh nhân. Có như thế, chị mới có thể hướng dẫn cho anh chị em làm tốt, làm đúng được. Từ những thành công thất bại, chị luôn cùng anh em bàn bạc rút ra kinh nghiệm để chăm sóc và điều trị bệnh nhân ngày một tốt hơn. Số bệnh nhân đến cấp cứu tại khoa ngày càng đông, nhiều bệnh nhân tưởng như vô phương cứu chữa lại được cứu sống, điều đó tạo thêm niềm tin của người bệnh và đồng nghiệp với A9 ngày càng tăng lên. Là phó khoa hộ sinh cấp cứu, lại vừa là PCN bộ môn hộ sinh cấp cứu Trường đại học Y Hà Nội, chị luôn là có ý thức nỗ lực, phấn đấu về khả năng chuyên môn, học tập đọc và viết sách đem những kinh nghiệm, kiến thức của mình giảng giải cho các y bác sĩ và thế hệ sinh viên. Chị luôn nói với đồng nghiệp trẻ làm bác sĩ, ý tá không những phải giỏi về kiến thức, tinh thông nghiệp vụ mà điều quan trọng nhất là phải có lương tâm, chỉ có lương tâm mới gắn bó cho người thầy thuốc trách nhiệm cao cả trước người bệnh. Bên cạnh đó, chị cùng anh em trong khoa tìm tòi, nghiên cứu những đề tài khoa học nhằm chuẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân một cách tốt nhất. Những đề tài về Ngộ độc thức ăn, sốc phản vệ của chị và anh em trong khoa đã được áp dụng và góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân từ 21% vào năm 1980 xuống còn 10% vào năm 1995. Chị còn vận động tổ chức cùng anh em thường xuyên xuống các địa phương để phổ biến kinh nghiệm giảng dạy chuyên môn cho các y bác sĩ hộ sinh cấp cứu. Là người nhiều tuổi đời, tuổi nghề nhất so với anh em trong khoa, chị hiểu và thông cảm đến mọi khó khăn vất vả của họ. Thời kinh tế thị trường, các bác sĩ khoa khác còn mở phòng khám tư nhưng ở A9 hiếm có bác sĩ nào làm thêm ngoài giờ vì họ đã quá mệt mỏi khi phục vụ bệnh nhân trong khoa. Là lãnh đạo chị luôn động viên, an ủi, gương mẫu chăm lo đúng mức đến sức khỏe của cán bộ nhân viên cũng như gia đình họ. Bù lại trong những khó khăn bề bộn ấy chị và anh em đã được nhiều những lời khen, khuyến khích của bệnh nhân và đồng nghiệp. Hết lòng vì công việc, đôi lúc chị nhận được sự không đồng tình về quyền lợi, chị chỉ nói làm người thầy thuốc phải hy sinh quyền lợi cá nhân, là thầy giáo thì phải sống trong sạch. Cái quí giá nhất mà chị luôn luôn tâm niệm và thực hiện tốt đó là phải có lương tâm. Chị thật xứng đáng với niềm tin yêu, kính trọng mà đồng nghiệp, học sinh và bệnh nhân đã dành cho mình.
T. Thủy-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 56(868)1998

Cách duy nhất để biết mình có nhiễm HIV hay không

Nhiều người cho rằng đi làm xét nghiệm để làm gì? Nếu lỡ đã nhiễm HIV rồi thì trước sau cũng chết, vì đã có thuốc chữa được bệnh này đâu? Xét nghiệm hay không là tùy quan điểm mỗi người. Bởi biết mình nhiễm HIV, nhiều người sẽ lo lắng hoảng sợ. Thế nhưng nếu biết đã bị nhiễm HIV, ta sẽ chú ý săn sóc sức khỏe bản thân hơn. Hơn nữa nếu đã nhiễm HIV mà không biết, có khi ta vẫn tiếp tục sống không cẩn thận, rồi sẽ vô tình làm lây sang người khác. Gọi là xét nghiệm HIV, nhưng không phải là để tìm xem trong máu có virut gây ra AIDS hay không, mà là tìm ra kháng thể chống lại HIV trong máu. Ngay sau khi nhiễm HIV thường trong khoảng từ 6 tuần đến 12 tuần, cơ thể sẽ tạo ra các kháng thể chống lại HIV. Khác với các bệnh truyền nhiễm, những kháng thể này không trị được HIV. Nhưng nếu phát hiện thấy trong máu có kháng thể này, có nghĩa là đã bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, xét nghiệm này có nhược điểm là trong thời gian đầu sau nhiễm từ 3 tháng đến 6 tháng, cơ thể chưa kịp tạo ra kháng thể, hoặc lượng kháng thể được tạo ra chưa nhiều, nên xét nghiệm chưa tìm ra được mầm bệnh. Thời gian này gọi là thời kỳ cửa sổ. Bởi vậy sau khi làm xét nghiệm, sẽ có thể có ba kết quả.
Kết quả dương tính: Là tìm thấy trong máu có kháng thể kháng HIV, có nghĩa là bạn đã bị nhiễm HIV. Riêng đối với trẻ sơ sinh thì lại khác, vì có khi bé không có HIV, nhưng trong máu của cháu vẫn có kháng thể kháng HIV do mẹ nhiễm HIV truyền sang.
Kết quả âm tính: Trong máu không có kháng thể kháng HIV. Lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra hoặc là bạn không nhiễm HIV, hoặc là bạn đã nhiễm HIV nhưng đang ở trong thời kỳ cửa sổ.
Kết quả không rõ: Nguyên nhân có thể là do bạn đang ở trong thời kỳ cửa sổ, hoặc cũng có thể bạn đang dùng một số loại thuốc nào đó, làm ảnh hưởng đến khả năng nhận diện kháng thể, nên kết quả xét nghiệm không được rõ ràng. Khi là làm xét nghiệm, bác sĩ xét nghiệm sẽ hỏi tên, địa chỉ của bạn. Nói hay không là tùy ở bạn. Nhưng bạn có thể hoàn toàn yên tâm vì kết quả xét nghiệm, tên và địa chỉ của bạn sẽ được giữ bí mật. Hiện nay các Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, các Trung tâm hay các Trạm da liễu tỉnh, các bệnh viện tỉnh… đều có làm xét nghiệm này. Bạn có thể đến đó làm xét nghiệm. Nếu ngại bạn có thể gọi điện thoại hỏi trước đến cần gặp ai, tên là gì… để hẹn trước, mà không cần nói rõ ngay mục đích cần gặp. Bạn cũng có thể gọi điện cho 108, để hỏi địa chỉ những nơi có thể cho 108, để hỏi địa chỉ những nơi có thể làm dịch vụ xét nghiệm và tư vấn HIV/AIDS. Hiện nay, chưa có mức giá xét nghiệm thống nhất, nhưng nhìn chung giao thông trong khoảng 25 nghìn đồng đến 40 nghìn đồng. Nếu đã qua thời gian cửa sổ, mà kết quả xét nghiệm âm tính, thì bạn là người may mắn. Nhưng từ đó bạn không được lặp lại những hành vi nguy cơ nữa. Nếu kết quả xét nghiệm không rõ, bác sĩ sẽ hướng dẫn để bạn đến xét nghiệm lại.
Nếu đã lỡ nhiễm HIV…
Khi phát hiện ra mình bị nhiễm HIV, nhiều người sẽ hoảng sợ hoặc rất buồn, thậm chí không thiết sống. Nhưng khủng hoảng ban đầu rồi sẽ qua. Điều quan trọng là từ giờ trở đi, bạn sẽ sống như thế nào? Bạn cần có một chỗ dựa tinh thần, cần sống lạc quan, chú ý chăm sóc giữ gìn sức khỏe và tránh làm lây lan bệnh sang người khác, cũng như đừng để bị tái nhiễm thêm. Hãy tìm chỗ dựa tinh thần ở những người ruột thịt trong gia đình, bạn bè thân biết, những đồng nghiệp và hàng xóm biết cảm thông. Ngoài ra bạn có thể tìm đến những Trung tâm tư vấn về HIV/AIDS những câu lạc bộ “Bạn giúp bạn”, các nhóm đồng đẳng… Ở đó, có những người hiểu được những khó khăn của bạn, giúp bạn vượt qua những cơn trầm cảm, những khi tuyệt vọng… Lỡ nhiễm HIV rồi thì đừng nghĩ là mọi cái đã hết. Bạn phải tiếp tục sống, tiếp tục làm việc, học tập và làm những gì có ích. Tất cả những công việc này sẽ đem lại cho cuộc sống của bạn ý nghĩa và niềm vui. Bạn cần đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe. Bạn cần đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe. Nên có chế độ ăn uống tốt, đủ chất, đủ vitamin, tránh ăn các thức ăn tái, sống, rau sống thức ăn vệ sinh không tốt. Nên hoạt động nghỉ ngơi điều độ, đồng thời tập thể dục, tập dưỡng sinh tăng cường sức khỏe. Để bảo vệ sức khỏe, bạn cần tránh tất cả các bệnh truyền nhiễm nói chung, đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bạn phải tránh tái nhiễm HIV từ một người khác, vì HIV vào mỗi người phát triển theo mỗi cách, nên HIV của người này khác HIV của người kia, nhiễm càng nhiều thì càng hại. Còn đời với những người xung quanh, bạn phải luôn giữ gìn đừng để lây HIV của mình sang họ. Luôn luôn dùng bao su, nếu quan hệ tình dục và tránh mọi khả năng tiếp xúc máu.
PV-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 52(813)1998

Vấn đề tuần này

Đã đến lúc cần xem xét lại lĩnh vực hợp tác làm phim với nước ngoài
Mấy năm gần đây, một loạt phim hợp tác giữa một số đơn vị điện ảnh của ta với nước ngoài như Xích lô, Yêu tiếng hát Việt Nam, Đường Trần, Jame Bond 18… đều gây dư luận, đặc biệt là dư luận không mấy thuận lợi cho những bộ phim đó. Tại sao lại như vậy? Thật dễ hiểu, tính tư tưởng của loại phim như vậy dường như không được kết từ cơ sở hiện thực của đất nước ta. Nói cách khác, đạo diễn quốc tịch nước ngoài đã hư cấu đến mức quá đáng thậm chí dùng cả xảo thuật điện ảnh để minh họa cho sự hư cấu đó, tạo hình ảnh về một Việt Nam đen đúa, bạc bẽo, mục nát… Sau khi xem Xích Lô của Trần Anh Hùng một số Việt Kiều ở Pháp và Canada đã hiểu lầm về hoàn cảnh sống ở Việt Nam, cho rằng ở quê hương chỉ là một cuộc sống bế tắc. Khác hẳn với vài bộ phim hợp tác với nước ngoài mang tính tư tưởng đối tốt như Điện Biên Phủ, Đông Dương, những bộ phim vừa liệt kê ở trên lại hàm chứa ý nghĩa tiêu cực xã hội như Xích Lô, hoặc trưng ra những nhân vật thật hoặc hư cấu nhưng đều không thích thú gì lý tưởng cộng sản như Yêu tiếng hát Việt Nam, James Bond 18. Gần đây nhất lại đạo diễn Trần Anh Hùng với ý đồ thực hiện bộ phim Chuyện tình kể trước lúc rạng đông. Lại những số phận nghiêng ngả không lối thoát và lại một màu đen tối của xã hội. Tất cả những chuyện như vậy tất yếu đang đặt ra vấn đề: Nhà nước ta cần xem xét đánh giá lại những mặt tốt và không tốt trong lĩnh vực hợp tác làm phim với nước ngoài trong thời gian mấy năm qua, để từ đó rút ra định hướng và những biện pháp cụ thể cho lĩnh vực này trong thời gian tới. Đó là việc cần thiết làm ngay để ngăn ngừa những nọc độc văn hóa, sau một thời gian dài với hiện tượng rất ít nhà làm phim lớn của nước ngoài thật sự hợp tác với ta, còn một phần lớn bộ phim được quay lại mang ý đồ không tốt. Phải chăng chúng ta thiếu định hướng? Phải chăng chúng ta lơ là trước những nọc độc văn hóa tiềm ẩn? Câu trả lời cho những điều trên hết thuộc Bộ văn hóa thông tin.
Bệnh viện E sơ kết một năm liên kết kỹ thuật
Ngày 19 tháng 12 năm 1998, Bệnh viện E đã tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện liên kết kỹ thuật với Bệnh viện Việt Đức và một số bệnh viện đầu ngành. Giáo sư Đỗ Kim Sơn giám đốc Bệnh viện Việt Đức cùng các giáo sư đầu ngành của bệnh viện Việt Đức, bệnh viện K, Viện Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ sinh sản, giám đốc, trưởng khoa ngoại, trưởng phòng kế hoạch tổng hợp một số bệnh viện tỉnh và trung tâm y tế huyện lân cận đã đến dự. Phát biểu tại hội nghị, các đại biểu đã đánh giá cao tinh thần hợp tác, bình đẳng và xây dựng, sự giúp đỡ nhiệt tình vô tư về kiến thức, kỹ thuật, phương tiện của các viện và các giáo sư bác sĩ đầu ngành, khẳng định hiệu quả và tính bền vững của một phương thức mới liên kết để chuyển giao kiến thức, kỹ thuật, để chia sẻ gánh nặng do quá tải ở các bệnh viện đầu ngành. Giáo sư Trần Ngọc n – giám đốc bệnh viện E đã bày tỏ niềm vui về những kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực: chấn thương – chỉnh hình, tiết niệu, tiêu hóa, sản phụ khoa và mong muốn được phục vụ nhiều hơn, được chia sẻ nhiều hơn gánh nặng với các bệnh viện đầu ngành, đồng thời sẵn sàng tiếp nhận điều trị bệnh nhân từ các tỉnh bạn, huyện bạn. Hy vọng, trong thời gian tới hoạt động liên kết kỹ thuật tiếp tục được mở rộng mọi mặt để tăng cường kỹ thuật mặt khác từng bước cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh trong các lĩnh vực ngoại khoa, sản phụ khoa và nhiều chuyên ngành khác.
Hội thảo khoa học “Châm cứu cai nghiện ma túy”
Ngày 21 tháng 12, tại Hà Nội, Viện châm cứu Việt Nam, kết hợp cùng với Ban chỉ đạo phòng chống ma túy Bộ y tế tổ chức Hội thảo khoa học với đề tài “Châm cứu cai nghiện ma túy”. Tới dự có đại diện Bộ y tế, Bộ công an, Bộ lao động thương binh và xã hội, Ban chỉ đạo phòng chống ma túy Bộ y tế, Viện sức khỏe tâm thần trung ương và Hà Nội. Tại hội thảo, giáo sư thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tài Thu – Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam đã trình bày công trình nghiên cứu và thực nghiệm của mình châm cứu để cắt cơn cho những người nghiện ma túy. Công việc bước đầu được tiến hành có hiệu quả rất tốt, 90% số người nghiện được áp dụng phương pháp này đã cắt cơn nghiện sau 4 đến 6 ngày điều trị. Theo ý kiến của nhóm nghiên cứu đây là phương pháp cai nghiện có hiệu quả và tốn ít kinh phí. Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã nói trong hội thảo: “Một trong những yếu tố giúp thành công là sự hợp tác thật sự của người nghiện và chúng tôi thật sự coi đó là những người bệnh”. Trong thời gian tới, cần có sự hỗ trợ, phối hợp của các cơ quan liên quan, viện sẽ tiếp tục hoàn thiện công trình và đưa phương pháp này vào áp dụng để điều trị cho người nghiện ở các trung tâm và cộng đồng.
Sao Mai-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 52(813)1998

Giáo sư – Tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên nhà khoa học lớn của y học dự phòng Việt Nam – Phần 2

Là một nhà khoa học tầm cỡ giáo sư Hoàng Thủy Nguyên được biết đến nhiều ở trong cũng như ngoài nước qua các công trình nghiên cứu về virut bại liệt, các virut đường ruột, virut cúm, virut Arbo, virut viêm gan, qua các công nghệ sinh học về Vacxin. Ông được đánh giá cao vì những đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển chuyên ngành virut học và y tế dự phòng nước ta, vì đã đào tạo cho đất nước nhiều thế hệ các nhà khoa học y học trẻ mà ngày nay nhiều người đã trở thành các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ. Giáo sư Hoàng Thủy Nguyên đã được giao nhiều trọng trách: Viện trưởng viện vệ sinh dịch tễ học, phụ trách ngành virut học, phụ trách vấn đề nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để phát triển các loại Vacxin virut mới như Vacxin viêm não Nhật Bản, Vacxin viêm gan virut B, Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS của Việt Nam, Trưởng tiểu ban giám sát virut HIV, ủy viên Ban chấp hành hội sinh học Việt Nam và Tổng hội y dược học Việt Nam, Trưởng tiêu ban giám sát virut HIV, ủy viên Ban chấp hành Hội sinh học Việt Nam và Tổng hội y dược học Việt Nam, Chủ tịch hội vi sinh học. Chủ tịch hội đồng khoa học công nghệ Bộ y tế, Chủ tịch Hội đồng chức danh khoa học liên ngành y dược học quân dân y, Chủ tịch hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia. Ông đã được thưởng nhiều huân chương cao quý của nhà nước, nhiều huy chương của các bộ, các đoàn thể, được tặng danh hiệu thầy thuốc nhân dân đợt đầu tiên… Ông là người thầy lớn nhân ái, độ lượng của nhiều thế hệ cán bộ y học, y tế dự phòng, nhà khoa học giải tâm huyết với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của đất nước mà ông là người góp phần quan trọng trong việc tham gia hoạch định các chính sách. Ông có ảnh hưởng rộng rãi trong các giới khoa học nước ngoài qua các hoạt động trong các tổ chức quốc tế, tổ chức dịch tễ học quốc tế, tổ chức nghiên cứu về tế bào thế giới mà ông là thành viên. Ông đã tiến hành hợp tác khoa học với nhiều nhà khoa học đầu ngành của các nước phát triển, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nước, tranh thủ được ở họ nguồn viện trợ để đổi mới công nghệ đổi mới trang thiết bị, trang bị được các thiết bị hiện đại, đồng bộ, có được sự giúp đỡ trong việc đào tạo các cán bộ khoa học có trình độ cao, tiếp thu những tiến bộ khoa học tiên tiến để xây dựng Viện vệ sinh dịch tễ và ngày y tế dự phòng, góp phần kiến tạo mối quan hệ hợp tác khoa học Việt Pháp, Việt – Mỹ, giúp đỡ nước bạn Lào trong việc đào tạo cán bộ y học và y tế dự phòng. Bước vào thiên niên kỷ mới, nhiều bệnh, nhiều dịch bệnh sẽ giảm thiểu hoặc được khống chế nhờ các Vacxin sản xuất từ các phòng thí nghiệm do ông lãnh đạo nhưng ấn tượng sâu sắc đầu tiên không thể quên mà mọi người giữ đối với nhà khoa học lớn của y học và y tế dự phòng này là ông chính là người đã góp phần to lớn vào việc loại trừ bệnh bại liệt tàn khốc ra khỏi đời sống trẻ em và nhân dân trong cộng đồng xã hội nước ta.
Tin địa phương
Hà Nội: Thành phố vừa kết thúc thắng lợi đợt II chiến dịch toàn quốc cho trẻ em uống vitamin A. Nhìn chung năm nay tiến độ chiến dịch diễn ra nhanh gọn, 12 quận huyện đều hoàn thành cho 100% các đối tượng uống ngay trong ngày đầu. 1179 điểm cho uống được bố trí ở nơi thuận tiện, sạch sẽ, bàn cho uống đều được phủ khăn trắng, có đủ thìa, cốc, giấy lau miệng, nước ấm để chiêu… Một số điểm uống còn kết hợp cho các cháu cân kiểm tra sức khỏe. Để chuẩn bị cho chiến dịch, trung tâm Y tế dự phòng thành phố đã tổ chức tuyên truyền rầm rộ với 91 lớp huấn luyện và nói chuyện, 5.581 lượt phát thanh trên loa đài, 29 lượt xe tuyên truyền và nhiều băng cờ khẩu hiệu. Ngoài số tiền cấp theo kinh phí của thành phố là 67 triệu, số tiền hỗ trợ cho chiến dịch của các phường là 71,5 triệu, các quận huyện là 86 triệu.
Ngày 11 tháng 12, Ủy ban nhân dân phường Hàng Bông đã tổ chức sơ kết 6 tháng triển khai công tác an ninh trật tự ở 4 bệnh viện lớn là Việt Đức, Răng Hàm Mặt, Viện K, Viện bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Do chủ động phòng ngừa tội phạm, công an phường đã phối hợp cùng lực lượng bảo vệ các bệnh viện đã phát hiện được 17 vụ phạm pháp hình sự, 6 vụ lấy cắp vặt, dập tắt kịp thời 1 vụ cháy ở bệnh viện Việt Đức, ngăn chặn 14 vụ thân nhân người bệnh có hành vi gây mất trật tự ở các phòng khám.
Quảng Bình: Theo số liệu thống kê của Sở y tế, đến hết tháng 11 năm 1998, đã có 5616 người dân bị bệnh sốt xuất huyết, 9 ca bị tử vong. So với thời điểm trước các trận bão lũ lụt gây ra vừa qua thì số người mắc bệnh đã tăng lên 1341 người. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tích cực sử dụng các biện pháp diệt muỗi tác nhân chính lây truyền bệnh, nhưng dịch sốt xuất huyết vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm.
Hội thảo về vacxin MMRII
Ngày 9 tháng 12 tại Hà Nội, Trung tâm quốc gia kiểm định vacxin sinh phẩm, Trung tâm y tê dự phòng Hà Nội và hãng MSD – Hòa Kỳ đã phối hợp tổ chức Hội thảo về vác xin phòng các bệnh sởi, quai bị và rubenon. Đây là dịp tốt để các nhà virut học, lâm sàng học, dịch tễ học, miễn dịch học và vacxin học Việt Nam và Hoa Kỳ trao đổi kiến thức và kinh nghiệm về các vấn đề liên quan đến các căn bệnh do virut sởi, quai bị và rubella gây ra, đặc biệt và biện pháp chủ động phòng ngừa bằng vacxin MMRII.
PGS.PTS Hoàng Minh-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 51(812)1998

Giáo sư – Tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên nhà khoa học lớn của y học dự phòng Việt Nam – Phần 1

Giáo sư tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên sinh ngày 18 tháng 3 năm 1929 trong một gia đình trí thức cách mạng quê ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Vài năm sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông vào Trường đại học y dược khoa Hà Nội, sau đó tham gia công tác trong nhiều lĩnh vực của ngành y tế từ năm 1947 đến năm 1949 và trong quân đội từ năm 1949 đến năm 1954 ở các đơn vị quân y tiền phương, tham gia các chiến dịch Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hoàng Hoa Thám. Năm 1953, ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Chính phủ cử hai cán bộ cao cấp dân y phối hợp với quân y trực tiếp phục vụ chiến dịch Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ thương binh và bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ y tế, cố vấn phẫu thuật Bộ quốc phòng. Theo yêu cầu của Bộ tổng tư lệnh, Bộ y tế cũng cử một đoàn cán bộ lên Điện Biên Phủ xây dựng phòng xét nghiệm vi sinh vật – hóa học được trang bị khá hiện đại do nhà khoa học trẻ tuổi Hoàng Thủy Nguyên phụ trách để giám sát và phòng chống chiến tranh vi trùng hóa học của thực dân Pháp. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp kết thúc, trong khu vực Mường Thanh, Hồng Cúm xảy ra bệnh lỵ trực trùng. Thuốc Ganidan để chữa trị khi đó không còn, nhà khoa học trẻ Hoàng Thủy Nguyên đã dùng canh trùng Bacillus subtilis, chủng do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mang từ miền Nam ra, dập tắt được vụ dịch này. Sau năm 1954, chúng ta phải tiếp quản một xã hội do chế độ thực dân để lại vô cùng lạc hậu về kinh tế, văn hóa, xã hội với một di sản bệnh tật vô cùng nặng nề, một tình trạng vệ sinh tồi tệ, thảm hại. Các dịch bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, thương hàn, bại liệt, đậu mùa, sởi, quai bị, thủy đậu, viêm não, viêm gan… hoành thành làm cho xã hội tiêu điều, nhiều gia đình khốn đốn. Trẻ bị bại liệt lê la khắp đường phố, xóm làng. Trong ba năm liền từ năm 1957 đến năm 1959 bệnh bại liệt phát thành dịch, tỷ lệ chết rất cao. Chỉ riêng năm 1959 tử vong do bệnh bại liệt lên tới 13%, chủ yếu do bại liệt thể hành tủy. Cuối 1958, dịch cúm Hồng Kông xảy ra trên toàn thế giới, nước ta cũng bị ảnh hưởng lớn của dịch vụ này, người ốm la liệt. Y học và y tế dự phòng đã có vai trò không nhỏ trong việc khắc phục tình trạng trên. Với các phương tiện rất thô sơ hồi ấy, nhà khoa học trẻ Hoàng Thủy Nguyên lần đầu tiên đã phân lập và định loại được vi rút cúm, virut bại liệt, bước đầu bắt tay vào xây dựng phòng thí nghiệm virut, xây dựng chuyên ngành virut học. Virut học trở thành chuyên ngành không thể thiếu trong nền y học nước ta từ đó. Không như các bệnh nhiễm khuẩn có thể điều trị bằng kháng sinh các bệnh do virut gây ra thời đó và cho đến nay cũng chưa có thuốc đặc hiệu chữa trị trong khi các bệnh do virut thường hay phát thành dịch. Cách duy nhất để giải quyết các bệnh, dịch do virut gây ra là dùng vacxin. Nhưng việc sản xuất vacxin phòng chống virut lại phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với sản xuất vacxin phòng chống các vi khuẩn. Để phòng chống bệnh bại liệt, có hai loại vacxin, vacxin Saik và vacxin Sabin. Vacxin Salk đã được chấp nhận nhưng chỉ mới được chấp nhận nhưng cũng chỉ mới được số rất ít nước như Hoa Kỳ, Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan đưa vào sử dụng từ năm 1955. Vacxin Sabin nghiên cứu, khi đó Hoa Kỳ gốc Ba Lan Sabin nguyên cứu, khi đó Hoa Kỳ còn chưa cấp bằng sáng chế, chưa cho sử dụng.
Vacxin Salk là loại Vacxin chứa virut bại liệt 3 typ I, II, III nuôi cấy trên tế bào thận khỉ sau đó virut bị bất hoạt. Tuy không thuận tiện cho việc sử dụng trong cộng đồng vì phải đưa vào cơ thể bằng đường tiêm và chỉ tạo được miễn dịch dịch thể, không tạo được miễn dịch tại chỗ nên không loại được virut bại liệt ra khỏi cơ thể, nhưng tiêm chủng ít gây ta biến vì virut đã bị bất hoạt. Vacxin Sabin dễ sử dụng hơn trong cộng đồng vì có thể uống, không cần tiêm, vừa tạo được miễn dịch dịch thể trong máu, vừa tạo được miễn dịch ở đường tiêu hóa, loại trừ được virut hoang dại trong cơ thể, sản xuất rẻ hơn, kinh tế hơn sản xuất vacxin Salk, nhưng qui trình sản xuất rất ngặt nghèo, không những phải đảm bảo tính hiệu quả mà con phải rất an toàn để tránh tai biến cho người dùng. Quyết định sử dụng loại Vacxin Sabin là một quyết định dũng cảm, khoa học. Trên thế giới khi đó chỉ mới có Liên Xô sử dụng Vacxin Sabin và cũng chỉ mới từ năm 1959. Mặc dù được nghiên cứu từ những năm 50 nhưng mãi đến 1963 Vacxin bại liệt uống của Vacxin Sabin mới được Nhà nước Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế. Mùa hè năm 1960, nhà khoa học Hoàng Thủy Nguyên được Bộ y tế cử sang Liên Xô tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất Vacxin Sabin trực tiếp từ viện sĩ Chu-ma-kop. Năm 1962 phòng thí nghiệm virut học của ông đã sản xuất được 2 triệu liều Vacxin Sabin, đủ nhu cầu cho trẻ em miền Bắc nước ta khi đó. Một kỷ niệm sâu sắc đến nay giáo sư Hoàng Thủy Nguyên vẫn còn nhớ là để yên lòng mọi người về tính an toàn của Vacxin do ông sản xuất, Bộ trưởng Bộ y tế Phạm Ngọc Thạch đã mời ông lên Bộ mang theo 200 liều Vacxin Sabin rồi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và ông, mỗi người đã uống 100 liều Vacxin này trước các lãnh đạo các vụ, cục của Bộ y tế. Việt Nam trở thành nước thứ hai, trước cả Hoa Kỳ, sản xuất và sử dụng rộng rãi Vacxin này. Chúng ta khống chế được bệnh bại liệt từ đó. Chỉ 1 đến 2 năm nữa thôi, đến năm 2000, đất nước ta sẽ thanh toán được căn bệnh hiểm nghèo này. Chỉ 1 đến 2 năm nữa thôi, hình ảnh những đứa trẻ chân tay teo tóp, nằm đờ đẫn bất động hoặc lê lết khi di chuyển sẽ vĩnh viễn chỉ còn là những kỷ niệm đau buồn của quá khứ.
PGS.PTS Hoàng Minh-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 51(812)1998