Qua phòng cấp cứu

Tối 23.7 chị Thịnh (72 ngõ Thông Phong Hà Nội) bật bình nóng lạnh để tắm dù trời hè nóng nực. Đó là việc của mỗi người, song đang tắm, tay ướt lại bật công tắc nên nỗi bị điện giật phải vào Phòng cấp cứu thì bài học chẳng của riêng ai.
Sáng 22.7 bà Nguyên ở tập thể Năng lượng vào buồng tắm lại đi dép trơn trong khi vội nên bị trượt ngã đầu đập vào bệ toa lét phải vào Phòng cấp cứu khâu 2 mũi.
Trưa 19.7 cụ Nguyễn Văn Hoàng (6A 221 Tôn Đức Thắng Hà Nội) đi vệ sinh mãi không ra. Khi cháu ngoại gọi và mọi người phá cửa vào đã thấy cụ gục ngã từ bao giờ. Các gia đình có người thân già yếu nên chú ý.
Ngộ độc do ăn cua
Gia đình bác Nguyễn Văn Duyên ở thị trấn Cổ Lễ – Nam Định, vừa ăn xong được khoảng 30 phút thì cả nhà (gồm 5 người) đau bụng quằn quại, toát mồ hôi… Bác cho biết trong bữa cơm chỉ có nhất món là canh cua. Đến đây bác giật mình nhớ ra cua do con trai bắt ở ruộng rau nhà, vừa được phun thuốc trừ sâu. Bà con ta nên chú ý bắt cua, cá ở ruộng vừa được phun phải thuốc phải rửa sạch và ngâm kỹ rồi cho lên bếp.
Sao vô trách nhiệm đến thế?
Bác Vũ Bình Phái 40 tuổi (Vĩnh Hồng – Hải Dương) được đưa đến bệnh viện Xanh Pôn trong tình trạng xương 2 gót chân bị vỡ, lún cột sống… Gia đình cho biết bác vừa bị người điều khiển xe lam cùng chiều đi với tốc độ nhanh móc vào xe máy kéo bác lê khoảng 3 mét. Người điều khiển xe lam đã cao chạy xa bay. Thật đáng trách gã điều khiển xe lam kia, sao vô trách nhiệm đến thế?
Chết do ngủ gật trên lưng trâu
Cháu T11 tuổi (xã Thạch Linh thị xã Hà Tĩnh) xem đá bóng quá khuya nên mất ngủ. Sáng dậy đi chăn trâu, cháu “cân thận” buộc dây thừng vào người để điều khiển trâu và đã ngủ gật trên lưng trâu rồi ngã xuống làm trâu giật mình bỏ chạy kéo lê một quãng. Mặc dù bà con, cô bác kịp thời giữ trâu, cởi dây và đưa cháu đi cấp cứu nhưng vết thương quá nặng, máu ra nhiều nên cháu đã chết trên đường.
Qua sự việc này, các bật phụ huynh nên nhắc nhở con em mình đừng thức quá khuya ảnh hưởng đến sức khỏe, để rồi những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Chỉ vì quá tiết kiệm
Ngày 12/7, Viện tai – mũi – họng tiếp nhận bà Lê Thị n, 63 tuổi ở phố Phan Bội Châu Hà Nội, bị một vết thương sâu 3 cm dài 5 cm ở sát ngay dưới mày trái. Được biết bà n bị đập mặt vào bồn rửa mặt trong lúc tấm gội. Do tiết kiệm điện, khi đang tắm bà thấy nước vẫn còn nóng bà liền gội đầu và lúc gọi sợ tốn nước nóng bà đã tắt máy khi mắt nhắm mắt mở nên sự cố đã xảy ra. Người nhà tưởng vết thương nhẹ chỉ dán băng ungo cho bà. Nhưng máu vẫn chảy nhiều nên sáng hôm sau bà đã được đưa vào bệnh viện. Tiết kiệm là đức tính quý báu nhưng chúng ta cũng không nên tiết kiệm quá và phải cẩn thận ở mọi nơi mọi lúc.
Thủng màng nhĩ do gội đầu
Ngày 16/7, chị Nguyễn Thị Linh, 32 tuổi ở phố Tông Đản, Hà Nội, phải đến bệnh viện vì bị đau tai, nước ở trong tai chảy rất nhiều. Sau khi khám, bác sĩ đã kết luận chị Linh bị thủng màng nhĩ. Nguyên nhân chị Linh đi gội đầu ở hiệu, trong lúc mát xa chủ hiệu đã thò cả ngón tay với móng dài để ngoáy tai cho chị. Lúc đầu chị Linh thấy thích và khen gội ở hiệu sạch sẽ và kỹ lưỡng. Cứ thế nhiều lần, nhưng chị cảm thấy nhức đau ở tai và hậu quả đã xảy ra. Gội đầu ở hiệu có nhiều cái tiện nhưng khi được rửa ngoáy tai cũng cần đề phòng.
MH – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Dược liệu – thuốc cổ truyền

Từ lâu, ngành Dược nước ta đã xác định: “dược liệu là thế mạnh”. Vậy chúng ta đã làm gì để tận dụng thế mạnh đó? Từ 1961 đến 1985, công tác điều tra dược liệu ở nước ta cơ bản đã hoàn thành. Qua điều tra ở 2715 xã, phường, thị trấn thuộc 357 huyện, thị xã của các tỉnh, thành phố thuộc trung ương ghi nhận được là 1863 loài, thuộc 236 họ thực vật bậc thấp cũng như bậc cao. Hiện nay đã điều tra phát hiện thêm và bổ sung lên tới trên 200 loài, trong số này có vài loài đã được các nhà thực vật học xác định là loài “mới” đối với khoa học. Về động vật làm thuốc đã ghi chép được khoảng 70 loài. Qua phân loại chữa bệnh ta thấy trong 1863 loài cây trên có 253 loài cây chữa cảm sốt, 242 loài cây chữa kiết lỵ, 249 loài cây chữa tiêu độc, 282 loài cây chữa ho viêm họng 238 chữa tê thấp, 143 loài cây điều kinh và 486 loài cây chữa bệnh khác… Số liệu trên khẳng định cây làm thuốc ở nước ta khá phong phú và phân bố rộng rãi khắp nơi, một số cây có trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, khả năng khai thác dồi dào, phần lớn các cây thuốc đáp ứng được nhu cầu phòng chữa bệnh ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Về công tác nghiên cứu, đã hoàn thiện ổn định 8 quy định trồng trọt tái sinh các loại dược liệu (như: thanh cao, kanhkina, sa nhân, vàng đắng, cỏ ngọt, dioscorea, bụp dấm, đu đủ) tạo được một số giống mới có năng suất và chất lượng cao (như: thanh cao, đương quy, bạch chỉ, ngưu tất, bạc hà); đã xây dựng được 19 quy trình chiết suất hoạt chất từ dược liệu đạt hiệu quả kinh tế cao (như: chiết artemisinin từ thanh cao, solasodin từ cà úc, steviosit từ cỏ ngọt, papain từ đu đủ, azmalicin, vandilin, cathranthin từ dừa cạn…).
Đáp ứng nhu cầu dược liệu Y học cổ truyền (YHCT) và y học hiện đại (YHHĐ). Hàng năm đã cung cấp cho hàng trăm khoa Y học cổ truyền trong bệnh viện đa khoa, trên 4.000 cơ sở chẩn trị Y học cổ truyền… Đã cung cấp các thuốc từ dược liệu có giá trị chữa bệnh như thuốc sốt rét, thuốc hạ cholesterol trong máu, thuốc đường ruột, thuốc bỏng, đồng thời còn dùng dược liệu để chiết suất các hoạt chất quan trọng cho sản xuất tân dược. Với 170 cơ sở sản xuất đông dược theo quy mô công nghiệp và bán công nghiệp cũng sử dụng khoảng 10.000 tấn dược liệu, với doanh thu khoảng 700 tỷ đồng (chưa kể một số sản xuất hương liệu – mỹ phẩm cũng có dùng dược liệu).
Về xuất khẩu, khoảng gần 100 doanh nghiệp nhà nước (chưa kể tư nhân) tham gia kinh doanh xuất khẩu dược liệu trực tiếp hoặc gián tiếp với khối lượng khoảng 10.000 tấn/ năm, trị giá từ 10 – 12 triệu USD/ năm như long nhãn (2.000 – 3.000 tấn/ năm), sa nhân (1.500 – 2.000) tấn, hạt sen (1.500 – 2.000 tấn), quế (3.500 – 5.000 tấn). Ngoài ra hàng năm ta cũng nhập khoảng trên 100 loại dược liệu với khối lượng khoảng 10.000 – 12.000 tấn, trị giá từ 8 – 12 triệu USD.
Vè sản xuất thuốc cổ truyền trong nước, với số lượng hơn 1.400 mặt hàng đông dược được xét cấp số đăng ký lưu hành, các dạng thuốc đã có sự đổi mới về dạng thuốc thích hợp với xu hướng chung hiện nay như viên vỉ, viên nang cứng, trà túi lọc, thuốc nhỏ giọt… Các xí nghiệp sản xuất thuốc đông đã trang bị áp dụng một số công nghệ mới phục vụ cho các công đoạn chiết suất, cô đặc… khắc phục hiện tượng nhiễm khuẩn, ô nhiễm…
Hiện nay đã có một số thuốc đông có hiệu lực trong điều trị bệnh như: hạ cholesterol trong máu, thuốc chữa viêm gan, thuốc hỗ trợ điều trị ung thư, thuốc chữa bỏng, thuốc hỗ trợ chữa cai nghiện ma túy…
Doanh thu của thuốc cổ truyền ước bằng 10% doanh số sản xuất thuốc nói chung. Một số sản phẩm được ưa chuộng ở nước ngoài nên đã xuất khẩu như: chè linh chỉ, sâm quy tinh, rượu hải mã…
Về nhập khẩu, hàng năm ta cũng có nhập theo đơn hàng một số thuốc cổ truyền từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ… ước tính 1 triệu cũng như công tác nghiên cứu về dược liệu (thổ nhưỡng, đất đai, giống loài, kỹ thuật trồng và chăm bón) chưa được đầu tư đúng mức, phương hướng nghiên cứu chưa rõ, chưa mang lại hiệu quả. Công tác nghiên cứu: sau thu hoạch, chế biến sao tẩm chưa làm được nhiều mà tác dụng của dược liệu phụ thuộc vào yêu cầu làm tốt công tác tồn trữ, bảo quản (dược liệu dễ bị nấm mốc dẫn tới có độc tố trong nấm mốc) chế biến (trong quá trình sao tấm có thể hình thành các sản phẩm cháy dở gây ung thư, quái thai), phối hợp các vị thuốc (thuốc cổ truyền thường kết hợp nhiều vị thuốc dẫn tới có các tương tác lợi, bất lợi). Phong trào trồng và sử dụng thuốc nam ở xã tuy còn nhưng hiệu quả thấp vì thuốc tân dược có sẵn, hiện nay thị hiếu người dân muốn “chữa bệnh sớm, dùng thuốc “mạnh”, khỏi bệnh nhanh nên ít dùng thuốc nam điều trị. Việc hiện đại hóa, công nghiệp hóa ngành sản xuất đông dược còn nhiều khó khăn cũng như công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm đông dược khó xác định (rượu rắn không thể phân tích rượu có ngâm đủ bộ rắn: 3 con hoặc 5 con) nhiều trường hợp chỉ định tính chứ không thể định lượng.
Minh Đức – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Người bệnh tâm thần cần sự chăm sóc của gia đình

Mấy năm gần đây, số bệnh nhân đến điều trị (ngoại trú lẫn nội trú) tại Trung tâm sức khỏe tâm thần (TSKTT) ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng đột ngột. Bệnh viện Chợ Quán điều trị cho bệnh nhân cấp tính; cơ sở Lê Minh Xuân (Bình Chánh) điều trị bệnh nhân bán cấp, mạn tính và phục hồi chức năng; cơ sở 197 Phan Đăng Lưu (Bệnh viện ban ngày cho trẻ em) đều đặn kết hợp chữa trị tâm lý với tân dược.
Bác sĩ Nguyễn Văn Chánh – Phó giám đốc trung tâm cho biết: Hằng năm trung tâm nhận thêm hàng ngàn bệnh nhân nhưng số giường thì có hạn nên nhiều người phải trải chiếu nằm sàn. Nhiều trường hợp bệnh nhân đã làm thủ tục ra viện nhưng người nhà không nhận, Bệnh viện phải cử cán bộ đến tận nhà thuyết phục. Điều đáng lưu ý là trong số bệnh nhân tái phát phần lớn do bị người xung quanh xa lánh, nhất là sự ghẻ lạnh của gia đình, người thân. Chưa kể đến sự thiếu hiểu biết bệnh của những người trong gia đình. Anh NL là một thí dụ. Anh vào Bệnh viện lần thứ ba, suốt 7 ngày không ăn uống, khi chúng tôi đến, anh tò chuyện như một người tỉnh, trừ đôi mắt ngây dại. Những lần trước ra viện, sức khỏe anh trở lại bình thường, gia đình tưởng anh hết bệnh nên không cho uống thuốc, làm bệnh tái phát. Còn anh NB phải nhốt ở phòng cách ly, vì những lúc lên cơn anh lồng lộn giằng xé quần áo, đập phá mọi thứ.
Mỗi bệnh nhân có một “thói quen”, người nhà cần phải biết để chăm sóc họ đúng lúc. Chữa trị cho người bệnh tâm thần là công việc của các thầy thuốc, Bệnh viện chuyên khoa, nhưng để Bệnh nhân sớm trở lại cuộc sống bình thường và tránh nguy cơ tái phát lại tùy thuộc vào sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và cộng đồng. Kết hợp chặt chẽ với hai yếu tố này chắc chắn kết quả sẽ tốt đẹp hơn.
Sự nguy hại của thuốc trừ sâu
Theo một công trình nghiên cứu của Mỹ, phụ nữ có thai nếu tiếp tục thường xuyên với thuốc trừ sâu trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai, nguy cơ đẻ con chết lưu sẽ tăng lên gấp 3 lần. Một tỷ lệ chừng 37% tử vong ở trẻ sơ sinh có nguyên nhân do cấu trúc bất thường của rau thai, màng trong tử cung và dây rốn còn 12% do dị tật bẩm sinh. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề này nhưng đây là lần đầu tiên các nhà khoa học mô tả nguyên nhân tử vong và nhấn mạnh đến tầm quan trọng về thời gian tiếp xúc với các thuốc trừ sâu.
TTH – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Cuộc gặp không hẹn trước

Hơi bất ngờ và không hẹn trước, song bác sĩ Lý Ngọc Kính – Giám đốc Sở y tế Thái Nguyên vẫn không quên khoe ngay 100% các trạm y tế xã trong tỉnh đã mua báo Sức khỏe & Đời sống…
Cảm ơn anh đã tạo điều kiện…
Không, không! Cái chính là báo các chị đã đổi mới, phản ánh kịp thời chính xác mọi vấn đề trong ngành, lại rất gần gũi với cơ sở nên đã thay chúng tôi bày tỏ mọi nỗi niềm của chúng tôi… phải nói là giờ đây đọc báo đã thành một nhu cầu không thể thiếu được của mỗi cán bộ y tế.
Vâng! Chính vì lẽ này, có việc đến đây là chúng tôi không thể không tranh thủ ghi nhanh một vài nét thời sự riêng của y té tỉnh nhà.
“Riêng” thì cũng vẫn nằm trong cái “chung” của cả nước hiện nay thôi. Đó là dịch bệnh mùa hè, ngộ độc thực phẩm. Việc sử dụng an toàn hợp lý thuốc trong các bệnh viện, vấn đề y tế cơ sở…
Năm nay, khí hậu thay đổi bất thường, nên Thái Nguyên số người sốt không rõ nguyên nhân do nóng khá cao. Cũng có một số ca hội chứng não cấp, nhưng không phải là viêm não Nhật Bản. Còn các bệnh khác như sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh đại, tiêu chảy…hay rộ lên về mùa này, nhưng do chúng tôi có kế hoạch chủ động phòng chống tốt nên chỉ xảy ra lác đác. Riêng ngộ độc thực phẩm thì đáng lo ngại, nhất là ngộ độc do hóa chất trừ sâu. Tính đầu năm đến nay toàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ ngộ độc thực phẩm làm 74 người phải vào bệnh viện cấp cứu, trong đó 2 người đã chết. Chúng tôi nghĩ đến ¾ số vụ ngộ độc này là do hóa chất trừ sâu, nhưng không thể kết luận chính xác được vì không có máy móc xét nghiệm, mà gửi về trung ương làm thì rất tốn kém. Chúng tôi đã thực hiện nhiều biện pháp để đối phó nhưng chưa có luật, thiếu phương tiện xét nghiệm, có kiểm tra nhưng không dựa vào đâu để có hình thức thưởng phạt nên mọi cố gắng đều rất hạn chế. Thái Nguyên chưa có cửa hàng rau sạch, nên nhiều nhà có đất thì quay lại trồng rau để tự cung tự cấp, thậm chí nhiều nhà cao tầng mang đất lên tầng thượng để trồng rau. Còn không có đát mà lo xa thì đành chọn bí, măng làm móc chủ lực.
Về y tế cơ sở nghe nói 65% số xã ở Thái Nguyên đã có bác sĩ…
Và đến năm 2002 con số này sẽ là 100%. Đội ngũ y tế tuyến xã có thể tạm yên tâm, nhưng là tỉnh miền núi nên màng lưới y tế thôn bản ở đây rất quan trọng. Chúng tôi đang gấp rút đào tạo y tế cho thôn bản nên hiện nay có 2005/3500 thôn, bản có y tế…
Càng nghe giám đốc nói mới càng thấy hấp dẫn, tôi bỗng sực nhớ đến câu nói nửa đùa, nửa thật của một cán bộ ở đây “Từ ngày tách tỉnh, chúng tôi như bị bỏ quên, mọi xe cộ cứ chạy tuột lên Bắc Cạn…”. Thế nhưng ngoài kia đã thấp thoáng nhiều bóng người – khách hẹn trong “kế hoạch” của giám đốc, chúng tôi đành luyến tiếc chia tay hẹn đến cuộc gặp sau sẽ được tìm hiểu và giới thiệu trọn vẹn về sự nghiệp y tế ở đây.
HN – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Sức khỏe sinh sản “những nỗ lực cần có nhiều phía” – Phần 2

Và đáng lo ngại
Báo chí và các diễn đàn về dân số từng gióng những hồi chuông báo động về tình trạng gia tăng tình dục trước hôn nhân, lạm dụng tình dục tuổi Vị thành niên, mại dâm ở độ tuổi dưới 18, và một tỷ lệ khá cao thai ngén ngoài ý muốn ở thiếu nữ và phụ nữ đã phải nạo phá thai. Trong số 1,4 triệu ca nạo thai và hút điều hòa kinh nguyệt có đến 1/3 là các cô gái trẻ. Tính ra ít nhất mỗi năm có khoảng 300.000 ca, mỗi ngày có 833 ca, mỗi giờ có 34 ca và cứ 2 phút có 1 ca. Cùng với đó là tình trạng nhiễm HIV/ AIDS phát triển mạnh, trong đó 60% số người nhiễm HIV ở tuổi trẻ… Đây là nỗi bất hạnh cho các em, là nỗi kinh hoàng cho các bậc cha mẹ, bởi nó trực tiếp đe dọa tương lai, nòi giống của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Xét đến cùng, chỉ vì các em không hiểu biết, thiếu kiến thức về Sức khỏe sinh sản để có thể làm chủ hành động của mình, tự bảo vệ tương lai của mình.
Những nỗ lực cần có từ nhiều phía
Sức khỏe sinh sản là quyền chính đáng của mỗi người, đặc biệt của lớp trẻ. Mọi nỗ lực để động viên sự tham gia của toàn xã hội, để huy động thêm nguồn lực nhằm giải quyết một cách hiệu quả nhất các vấn đề có quan hệ đến Sức khỏe sinh sản vị thành niên. Muốn vậy, trước hết cần nâng cao hiểu biết từ nhiều phía về Sức khỏe sinh sản đặc biệt cho đối tượng Vị thành niên và thanh niên, các bậc cha mẹ, các bậc quản lý và hoạch định chính sách. Thông qua các thông điệp thích hợp (khẩu hiệu hành động, biểu trưng, nhạc hiệu, bài hát về Sức khỏe sinh sản vị thành niên, áp phích, các ấn phẩm khác…) Từ đó, lựa chọn các mô hình can thiệp thử nghiệm trong các nhóm đối tượng và ở cộng đồng (như: trung tâm tư vấn, câu lạc bộ, Sức khỏe sinh sản Vị thành niên và phòng chống HIV/ AIDS trong các trường hợp, nhóm và Sức khỏe thanh niên và kỹ thuật cuộc sống) từ đó định hướng phát triển lành mạnh cho hàng chục triệu Vị thành niên giúp các em nhận thức đúng đắn về tình bạn khác giới, tình yêu đích thực, xây dựng một lối sống văn hóa lành mạnh giúp các em chuẩn bị hành trang bước vào tuổi trưởng thành, làm chủ hành động của mình, không đẩy bạn mình vào tình thế bắt buộc, chậm có quan hệ tình dục, tình dục lành mạnh an toàn, tránh được những rủi ro: quan hệ tình dục ngoài ý muốn, tránh bị ép buộc quan hệ tình dục, tránh có thai ngoài ý muốn, nạo hút thai, lây nhiễm HIV/ AIDS… đồng thời phải tạo được sự hỗ trợ tích cực và môi trường thuận lợi cho việc hình thành các chính sách thích hợp về Sức khỏe sinh sản vị thành niên, chăm lo lợi ích chính đáng, đời thường của Vị thành niên và thanh niên trẻ… có sự chia sẻ trách nhiệm ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội và các bậc phụ huynh.
Bạch Thông –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Sức khỏe sinh sản “những nỗ lực cần có nhiều phía” – Phần 1

Sức khỏe sinh sản (SKSS) trong đó có Sức khỏe sinh sản vị thành niên (VTN) không đơn thuần là vấn đề y tế, sức khỏe mà còn là vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, nếp sống của cả một thế hệ; là vấn đề có quan hệ đến tương lai của từng quốc gia của cả nhân loại.
Ở nước ta, những năm gần đây, vấn đề Sức khỏe sinh sản vị thành niên đã được đề cập đến thông qua các hoạt động giáo dục dân số, sức khỏe, môi trương, phòng chống HIV/ AIDS và các tệ nạn xã hội. Nhiều thông điệp, kiến thức và thông tin đã đến được một bộ phận đáng kể vị thành niên, góp p hần vào việc giáo dục giới tính, định hướng lối sống, hành vi, hướng dẫn thực hiện kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ)… các tài liệu truyền thông như: Tâm lý tuổi dậy thì, Tình bạn và tình yêu, Hành trang bạn gái, Những điều tuổi trẻ cần biết về HIV/ AIDS) các ấn phẩm báo chí và hơn 3500 câu lạc bộ (CLB) thanh niên ở cơ sở (như Câu lạc bộ bạn giá, Câu lạc bộ hôn nhân, cửa hàng xanh, quán cà phê thanh niên…) đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo thanh niên trẻ và Vị thành niên; nhiều câu lạc bộ đã trở thành điểm hẹn, trung tâm thông tin – tư vấn đáng tin cậy về Sức khỏe sinh sản của hàng chục vạn Vị thành niên.
Nhiều điều bất cập…
Tuy vậy, những hoạt động nói trên chủ yếu được lồng ghép trong các hoạt động Kế hoạch hóa gia đình, chưa vượt ra khỏi sự ràng buộc về tâm lý, đạo đức truyền thống; còn ít những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Những “cấm kỵ” của dư luận, sự lảng tránh của người lớn xưa nay đã tạo ra bức màn bí mật về Sức khỏe sinh sản giữa các thế hệ. Người lớn luôn luôn tỏ ra mô phạm không muốn nói với con trẻ Vị thành niên những vấn đề được coi là thầm kín nơi buồng the; không muốn trả lời thẳng thắn các câu hỏi, đừng nói gì đến việc hướng dẫn cách phòng tránh, cách tự bảo vệ cho con trẻ. Lo ngại của các bậc cha mẹ, của các thầy giáo cô giáo là liệu pháp giáo dục giới tính có giúp cho thanh niên tránh được các rủi ro có hại cho sức khỏe hay lại dẫn đến hoạt động tình dục và tình dục được bảo vệ so với các chương trình đơn thuần khuyến khích việc phòng tránh? Với một đất nước có cơ cấu dân số trẻ như nước ta, trẻ hơn so với xu hướng dân số thế giới: chừng 50% dưới tuổi 20, khoảng 20% trong độ tuổi 10 – 19 tức là khoảng 15 triệu Vị thành niên thì những điều nói trên đã và đang trở ngại cho quá trình nhận thức của Vị thành niên về Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, Kế hoạch hóa gia đình, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, trong đó có HIV/ AIDS. Nhiều thanh niên không biết làm thế nào để ngăn chặn sự lây nhiễm, đặc biệt thanh thiếu niên ở nông thôn, ở các vùng sâu, vùng xa. Họ không được tư vấn, không được thông tin, càng không còn cơ hội tiếp cận các dịch vụ Sức khỏe sinh sản. Và cho dù có tiếp cận được thì dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình dựa vào một phương pháp: phương pháp đặt vòng như đã làm trong nhiều năm trước đây không thực tế, không phù hợp với lớp trẻ.
Bạch Thông –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Hội nghị toàn quốc về công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trong 2 ngày 30/6 – 1/7/1998 tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị toàn quốc về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGDTE). Đồng chí Lê Khả Phiêu Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã đến dự và phát biểu tại Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đồng chí Đặng Hữu, Ủy viên Trung ương Đảng, trưởng ban khoa giáo Trung ương. Bộ trưởng Ủy ban chăm sóc bảo vệ trẻ em Trần Thị Thanh Thanh; Bà Rima Salah, Trưởng đại diện UNICEF tại nước ta, các đồng chí lãnh đạo các bộ ngành, 161 đại biểu của 6 tỉnh thành trong cả nước.
Hội nghị đã nghiên túc kiểm điểm 4 năm thực hiện chỉ thị số 38 – CTTW của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về “tăng cường công tác Bảo vệ chăm sóc giám dục trẻ em”. Thời gian qua, công tác Bảo vệ chăm sức giáo dục trẻ em được sự quan tâm tham gia của cấp Đảng chính quyền ban ngành xã hội đã trở thành phong trào rộng khắp mang tính xã hội hóa cao. Các đại biểu đã trao đổi nhiều vấn đề liên quan đến Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, trong đó nhấn mạnh vai trò của gia đình, cộng đồng nhất là cộng đồng cơ sở. Gia đình phải là cái nôi, chịu trách nhiệm chính cùng nhà trường và xã hội trong Chăm sóc giáo dục trẻ em. Hội nghị rà soát lại tiến độ thực hiện các mục tiêu, nhất là các mục tiêu khó đạt như tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, Trẻ em thất học, Trẻ em lang thang, Trẻ em bị bóc lột sức lao động, bị xâm hại, các tệ nạn xã hội đối với Trẻ em; đề nghị Chính phủ tăng thêm đầu tư cho công tác chăm sóc trẻ em như tăng quân sách, xây dựng thêm các trung tâm vui chơi văn hóa cho trẻ em, rà soát lại các chính sách cho trẻ em (nhất là trẻ em vùng sâu, vùng xa) đưa các mục tiêu về Chăm sóc bảo vệ & Giáo dục trẻ em vào chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Hội nghị nhất trí đánh giá cao về vai trò lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của các cấp Đảng cơ sở trong công tác Chăm sóc bảo vệ & Giáo dục trẻ em, khẳng định trong thời gian tới tiếp tục củng cố các Ủy ban chăm sóc & Bảo vệ trẻ em các cấp, đồng thời kêu gọi sự phối hợp hành động liên ngành và toàn xã hội trong công tác này. Hội nghị cũng chỉ ra công tác Chăm sóc bảo vệ & Giáo dục trẻ em phải được tiếp cận một cách khoa học trong điều kiện kinh tế thị trường và trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay…
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Chất vi lượng và chất đa lượng

Chất vi lượng là những chất chỉ với một lượng rất nhỏ nhưng lại tối cần thiết đối với cơ thể. Sự thiếu hụt các chất vi lượng trong thực phẩm gây hậu quả không nhỏ. Ví dụ, thiếu iod gây ra bướu cổ, đần độn, chậm lớn, dễ sảy thai. Hậu quả này xảy đến từ từ, chậm chạp, vì vậy, nhiều người hầu như không mấy quan tâm đến chất vi lượng. Chất vi lượng là những chất mà cơ thể chỉ có từ vài miligam trở xuống như chất sắt, kẽm, đồng, iod v.v… Trái lại, những chất như canxi, photpho, lưu huỳnh và magie… mà sự có mặt của chúng trong cơ thể được tính bằng gam trở lên, được gọi là đạt chất lượng. Thí dụ, cơ thể người lớn có khoảng 1.000 gam canxi.
Những chất ấy có trong thực phẩm, nhưng bị giảm trong quá trình phân phối, do tác động của một số chất kích thích tăng trưởng và chất bảo quản. Trái cây tăng trưởng một cách tự nhiên từ từ, được chính dưới ánh mặt trời, về mặt dinh dưỡng, bổ hơn trái cây bị kích thích tăng trưởng và làm chín một cách nhân tạo. Hơn nữa stress và sự ô nhiễm môi trường cũng khiến cơ thể mất đi một phần những chất này. Sự thất thoát này không thể bù lại bằng các thực phẩm chế biến theo phương pháp công nghiệp. Thực phẩm hấp chín, hoặc chưng cách thủy, giữ lại nhiều hơn các chất kể trên, so với nấu chín bằng nước và không sử dụng hết chỗ nước ấy. Dưới đây là vai trò của một số chất vi lượng, đa lượng mà bạn cần thiết để bổ sung cho hợp lý trách bệnh tật không đáng có.
Iod: Rất cần thiết cho sự hoạt động điều hòa của tuyến giáp trạng, có sẵn trong các loại tôm, cua, cá thu; muối chưa tinh chế, hoặc muối iod…
Canxi: Góp phận vào việc cấu tạo xương, ngăn ngừa chứng loãng xương, cân đối độ đông máu; có trong sữa, sữa chua, rau xanh, một vài loại nước khoáng, các loại phomat…
Magie: Có vai trò trong việc cân đối các tế bào thần kinh, giúp tạo các kháng thể, nhưng chính stress sẽ phá hủy chất đa lượng này. Magie có trong trái chanh, đậu nành, ngũ cốc chưa xay xát kỹ, rau xanh (trừ rau giền), các loại sò ốc, socola, hạnh nhân…
Photpho: Giúp vào việc cấu tạo xương và răng, giúp tích trữ và mau chóng phóng thích năng lượng; có trong cá, thịt, trứng, phomat, đậu nành, socola, ngũ cốc chưa xay xát kỹ.
Chất sắt: Góp phần vào việc tạo hồng cầu, đem oxy đến các tế bào và tạo cân bằng chuyển hóa, có trong thịt cổ cánh, đậu nành, ca cao, các loại rau, lòng đỏ trứng.
Kẽm: Ngừa mụn trứng cá, giúp vết thương mau lành, kích thích sự phòng vệ miễn dịch. Sự thiếu hụt chất kẽm làm cho ăn không ngon miệng. Chất này thường có trong các loài sò, cá mòi, thịt, gan, đậu, nấm hạt, yến mạch.
Flo: Có tác dụng bảo vệ răng, làm chắc các vết gãy, phòng ngừa loãng xương, có trong các loại nước khoáng, sò ốc, cá, trà, cà phê.
Đồng: Góp phần vào việc tạo hồng cầu và bao myelin của dây thần kinh. Giúp cơ thể chống lại nhiễm khuẩn, có trong các loài sò, tôm, gan, đậu nành, hạt tiêu.
Natri: Bảo đảm sự cân bằng nước trong cơ thể, làm cơ bắp co giãn dễ dàng, luồng thần kinh vận chuyển dễ dàng, có trong cá, thịt xông khói, thực phẩm muối chua, thịt cổ cánh, sò, ốc, trứng, phomat, bơ mặn.
Kali: Cân đối sự giữ nước trong tế bào, cân đối luồng thần kinh, sự co giãn cơ bắp và điều hòa nhịp tim.
Sele: Phòng chống các “gốc tự do” bảo vệ tim. Có trong mầm lúa mì, ngũ cốc chưa xay xát kỹ, cải bắp, hành, măng tây, trái dừa, các loài ốc.
An Băng Tâm – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Chăm lo đời sống cán bộ – công nhân viên – Phần 2

“Còn vấn đề nâng cao trình độ tay nghề cho anh chị em ở đây thì sao?” Tôi hỏi chị Nguyễn Thị Thanh, Chủ tịch công đoàn, “Chúng tôi động viên và cố gắng tạo điều kiện để anh chị em nâng cao trình độ. Trong 6 tháng đầu năm 1998, đã cử 16 bác sỹ đi học, đi dự Hội nghị, Hội thảo… ở nước ngoài, duy trì cho 35 bác sỹ học chuyên khoa cấp I và 13 nữ hộ sinh đi học cao cấp. Anh chị em đi học ngoài chế độ, chính sách chung còn được công đoàn chăm lo, bảo đảm tiêu chuẩn và chế độ, chính sách chung còn được công đoàn chăm lo, bảo đảm tiêu chuẩn, chế độ như người đang công tác tại bệnh viện. Vừa đi học, vừa làm việc được hưởng nguyên lương. Đi học có thành tích tốt được xét thưởng như làm việc. Đi học nhưng vẫn được tham gia khám bệnh ngoài giờ trong các phòng dịch vụ của Bệnh viện. Đi học nước ngoài dưới 1 năm được hưởng nguyên lương… 1 năm được hưởng nguyên lương… Ngoài việc động viên, tạo điều kiện, công đoàn còn có những biện pháp khác như xét tăng lương, nâng bậc theo bằng cấp… Nhờ những biện pháp đó kết hợp tuyên truyền, giáo dục, anh chị em từ ngần ngại buổn ban đầu nay đã nhận thức và tự giác nâng cao trình độ của mình. Số người đăng ký đi học năm sau tăng hơn năm trước”. Cũng cần phải nói, ngoài Chương trình nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm đã đem lại những thành công lớn ngay từ những bước đầu, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, trong năm 1997 đã đồng thời tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài khoa học khác như: Nghiên cứu trong chương trình quốc gia UB 10/80 về: “Định lượng tồn lưu Di – oxin trong cơ thể người Việt Nam ảnh hưởng trên sức khỏe sinh sản”; Nghiên cứu cấp bộ về “Mô hình truyền thống và tham vấn Kế hoạch hóa gia đình tại I huyện ở Cửu Long”; Hợp tác nghiên cứu: “Vaccin dự phòng viêm gan siêu vi B thế hệ thứ 3; Nghiên cứu “Khả năng chấp nhận phương pháp phá thai sớm bằng Mifepristone và Pró taglandin”… Trong hoạt động chuyên môn, nhờ thường xuyên chăm lo nâng cao trình độ cho Cán bộ – Công nhân viên, Bệnh viện phụ sản Từ Dũ đã có điều kiện để áp dụng nhiều thành tựu mới về Khoa học kỹ thuật như Nâng cao chất lượng quản lý chuyên môn bằng mạng vi tính; Áp dụng nhiều biện pháp chống phiền hà và nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân; Áp dụng một số phương pháp mới trong điều trị kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh như nội soi PT – ổ bụng, buồng TC, siêu âm Doppler…
Làm tốt công tác đối nội, Công đoàn Bệnh viện phụ sản Từ Dũ cũng có nhiều hoạt động đối ngoại đáng biểu dương như phụng dưỡng 6 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây 2 nhà tình nghĩa, vận động anh chị em ủng hộ đồng bào bị bão lụt hàng chục triệu đồng.
Mong rằng, với những kinh nghiệm đã có, những sáng tạo, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của mình, Công đoàn Bệnh viện phụ sản Từ Dũ sẽ cùng chính quyền làm tốt kế hoạch đã đề ra để phục vụ người bệnh ngày càng tốt hơn nữa.
Thanh Hùng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Chăm lo đời sống cán bộ – công nhân viên – Phần 1

Là một Trung tâm y tế chuyên khoa sâu về Sản phụ sơ sinh khu vực phía Nam. Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ ngoài chức năng phòng và chữa bệnh còn có thêm các nhiệm vụ khác nữa là nghiên cứu khoa học, Huấn luyện đào tạo và chỉ đạo tuyến. Do yêu cầu nhiệm vụ, từ nhiều năm nay, Ban lãnh đạo Bệnh viện phụ sản Từ Dũ đã luôn coi trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề cho cán bộ công nhân viên của mình. Vì thế, trong thời gian qua, Bệnh viện đã liên tục đạt được nhiều thành tích trong cả công tác nghiệp vụ lẫn nghiên cứu khoa học mà nổi bật nhất là sự kiện 3 cháu bé Việt Nam đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cuối tháng 4/1998. Trong thành công đó, Công đoàn Bệnh viện phụ sản Từ Dũ có vai trò không nhỏ bằng việc làm tốt công tác chăm lo đời sống Cán bộ – Công nhân viên, tổ chức phát động phong trào thi đua lao động sáng tạo nghiên cứu khoa học.
“An cư thì mới lạc nghiệp”. Cha ông xưa nói thế. Bệnh viện phụ sản Từ Dũ sẽ không có được những thành công ngày hôm nay nếu đời sống Cán bộ – Công nhân viên còn thiếu thốn, khó khăn. Trong cái khó khăn chung khi từ bỏ cơ chế bao cấp. Ban chấp hành công đoàn Bệnh viện, từ hoàn cảnh thực tế cho phép, đã cùng chính quyền nhanh chóng tìm ra cách khắc phục chăm lo đời sống anh em. Tôi thực sự ngạc nhiên và mừng khi được biết, công đoàn ở đây có căng – tin bán hàng trả góp các mặt hàng cao cấp như ti vi, tủ lạnh, bếp ga, vật dụng gia đình đắt tiền…. cho Công nhân viên của mình. “Lãi suất thấp, chị em trả dần bằng tiền thưởng hàng tháng của mình, dần dần, họ cũng sắm đủ các vật dụng cần thiết cho gia đình”. Chị Huỳnh Hải, Ủy viên thường vụ phụ trách đời sống nói với tôi như thế. Sáng tạo vận dụng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, công đoàn cố gắng tạo điều kiện để nâng cao thu nhập cho anh chị em một cách hợp lý và công bằng nhất. Như việc giữ xe chẳng hạn, ở các nơi khác thường là giao cho nhà thầu, đôi khi thu giá vô tọi và làm ảnh hưởng tới uy tín của Bệnh viện. Còn ở Từ Dũ, Công đoàn đứng ra bao thầu, phân công anh chị em có thu nhập thấp thay nhau trực, mỗi tháng cũng có thêm 100.000 – 150.000 đồng. Tùy theo khả năng, trình độ, đoàn viên công đoàn thay nhau làm thêm ở các phòng dịch vụ, vừa tăng thu nhập, vừa đáp ứng được phần nào nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người bệnh. Được biết, ngoài mức thu nhập 700.000 đồng (chưa kể lương), Cán bộ công nhân viên ở đây còn có thêm thưởng, làm thêm dịch vụ… Khi ốm đau, hoạn nạn, công đòn thăm hỏi, giúp đỡ, bằng vật chất và tinh thần. Nữ hộ sinh Nguyễn Thị Thanh Minh bị cháy nhà được trợ cấp hơn 28 triệu đồng. Anh Nguyễn Văn Lộc bị tai nạn giao thông được giúp 15 triệu đồng. Con của nữ hộ lý Nguyễn Thị Tươi bị tiểu đường được chăm sóc, điều trị tại Bệnh viện, khi chết còn được giúp gần 10 triệu đồng… Cán bộ công nhân viên được vay 2 triệu đồng trả dần không lãi suất để sửa nhà hoặc làm kinh tế phụ… Vật chất là thế, về tinh thần, Cán bộ công nhân viên thường xuyên được quan tâm để họ gắn bó với bệnh viện bằng các hoạt động thi đua, vui chơi, tham quan… Con em họ có học bổng Nguyễn Đức Cảnh, được tổ chức vui chơi nhân các ngày lễ tết. Thân nhân họ được ưu tiên vào làm trong bệnh viện nếu có đủ khả năng, trình độ. Thật vui khi biết ở đấy có gia đình 3 thế hệ cùng làm việc…
Thanh Hùng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998