Tiếp nhận viện trợ của Chính phủ Nhật bản

Chiều 24/6/98 tại Hà Nội đã diễn ra lễ ký trao đổi công hàm Dự ẩn nâng cấp bệnh viện (BV) Bạch Mai và lễ tiếp nhận viện trợ của Chính phủ Nhật Bản cho Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR).
Tại buổi lễ, Giáo sư Đỗ Nguyễn Phương – Bộ trưởng Bộ y tế thay mặt Chính phủ Việt Nam và ngài đại sứ Kasunari Suzuki đại diện Chính phủ Nhật Barn đã ký trao đổi công hàm Dự án nâng cấp Bệnh viện Bạch Mai trị giá 6 tỷ 38 triệu yên. Theo bản công hàm này, dự án sẽ được khởi công vào tháng 9/98, để đến năm 2000 khu Bệnh viện mới gồm 480 giường bệnh với một trung tâm kỹ thuật y tế hiện đại sẽ được khánh thành tại Bệnh viện Bạch Mai. Đây sẽ là một bộ phận trong những trung tâm chuyên sâu ở nước ta, là cơ sở y tế hiện đại để chẩn đoán điều trị, đồng thời cũng là cơ sở nghiên cứu khoa học, đào tạo, thực tập cho các giáo sư, bác sĩ Việt Nam.
Sau các đợt viện trợ 34,4 triệu liều vacxin bại liệt và các phương tiện vận chuyển dây chuyền lạnh, chiều 24/6/98 chương trình Tim chủng mở rộng nước ta lại được tiếp nhận 1,1 triệu liều vacxin sởi và 9 xe ô tô với tổng trị giá 400.000 USD của Chính phủ Nhật Bản. Số ô tô này đã đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của các tỉnh mới tách, còn gặp nhiều khó khăn là Bình Phước, Bạc Liêu, Đà Nẵng, Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Cạn, Nam Định. Với sự quan tâm và đầu tư lớn của Chính phủ Việt Nam, sự giúp đỡ kịp thời có hiệu quả của Chính phủ Nhật Bản công tác Tim chủng mở rộng ở nước ta đã thu được những thành quả to lớn góp phần làm thay đổi cơ bản cơ cấu bệnh tật ở trẻ em Việt Nam, tạo điều kiện để chúng ta đạt mục tiêu thanh toán bại liệt vào năm 2000 như đã cam kết cùng cộng đồng quốc tế.
Sóc Trăng “Các điểm giết mổ gia súc không đảm bảo vệ sinh thú y”
Theo điều tra mới đây, tỉnh Sóc Trăng có 131 điểm giết mổ lợn trâu bò (riêng thị xã Sóc Trăng có tới 26 điểm). Trung bình mỗi điểm giết mổ từ 2 – 3 con/ ngày, điểm lớn từ 5 – 6 con/ ngày. Theo kiểm tra, đánh giá của Chi cục thủy tỉnh, hầu hết các điểm này đều không tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn vệ sinh thú y như: Chất lượng thịt không được kiểm nghiệm, nước thải không được xử lý, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Để khắc phục tình trạng trên, ngành chức năng đang lập kế hoạch xây dựng mỗi huyện, thị có một lò giết mổ tập trung theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nghệ thuật ứng xử (Phần 2)

Thông thường trong tình thế như vậy, con người “phách lạc hồn xiêu” chỉ còn có việc van xin, khóc lóc, mong làm mủi lòng người khác. Nhưng đấy đâu phải là tính cách của Hoạn Thư và cũng không phải là lối thoát trong tình huống như vậy. Trong tình trạng nguy khốn, Hoạn Thư vẫn còn đủ tỉnh táo tìm ra cách ứng xử, một lối thoát có tình có lý. Điều tốt nhất trước hết là phải “cúi đầu dưới trướng liệu điều kêu ca” đã:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Thư bà, bà chấp gì chút phận đàn bà như tôi với thói ghen tuông thường tình của con người. Chắc bà còn nhớ lúc bà ra Quan m Các, bà và chàng Thúc Sinh đã tự tình những gì hàng giờ và cũng đã biết tôi đã đứng nghe tỏ tường mọi nỗi nhưng tôi cố nói gì đâu. Tôi biết sau chuyện này, bà sẽ bó ra đi mà bà đã bỏ đi thật. Chẳng những thế bà lại còn mang theo những chuông vàng khánh bạc, những vật gia bảo của nhà tôi. Việc bà lén lút tự tình với chàng Thúc còn tha thứ được chứ chuyện trộm cắp là phạm pháp rồi sao mà cho qua được. Thế mà tôi đã để bà ra đi yên ổn, không đuổi theo. Vì sao vậy? Vì xưa nay đối với bà “Lòng riêng riêng những kính yếu”. Ở đây Hoạn Thư đã đề cao Kiều đúng mức, không hề tô vẽ, đúng với phẩm chất mà Kiều xứng đáng có. Nhưng những điều trên mới là tình (là xin, là kể ơn, là đề cao Kiều). Đã ra tòa, thì phải có lý, có lẽ. Lý lẽ là điểm cốt lõi của việc phán xử.
Thưa bà, lòng riêng thì như vậy, nhưng bà cũng rõ cái lẽ ở đời là: “Chồng chung chư âi dễ chiều cho ai” Hãy cứ đặt bà vào địa vị của tôi lúc bà trong vòng tay của chàng Thúc hoặc giả như bây giờ có ai đó, không phải là bà, đang trong vòng tay ông Từ Hải thì bà sẽ ứng xử ra sao?
Lỹ lẽ chắc như đinh đóng cột, một chân lý muôn thuở đối lại với lời buộc tội: “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”.
Nhưng thưa bà, dầu xoa tôi cũng xin cúi đầu nhận lỗi, chịu hết phần trách nhiệm về mình: “Trót đã gây chuyện chông gai”, nay chỉ còn hy vọng vào”… lượng bể thường vài nào chăng”.
Tôi biết bà là con người lớn, đầy lượng hải hà, mong bà gia ân. Tôi thực sự xin bà.
Trước bản bài chữa “thấu tình đtạ lý” như vậy vì chánh án, nguyên cáo tuy đã đưa ra bản cáo trạng danh thép, cũng đã vội:
“Khen cho thật đã nên rằng
Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời”
và phán quyết luôn:
“Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Lý do chính đáng để đưa ra lời phán quyết này là:
“Làm ra thì cũng con người nhỏ nhen”. Kiều đâu phải là con người tiểu nhân đắc chí. Tuy nhiên nàng vẫn phải “lên mặt” kể cả, người trên. Ừ, người đã biết tội, “đã tri quá nên” thì ta cũng sẵn sàng “tha cho thì cũng may trời”. Một phiên tòa đặc biệt xử một trường hợp đặc biệt, một bản cáo trạng đanh thép, một bản bào chữa đầy thuyết phục, một bản phán xét “tâm phục khẩu phục”, một nghệ thuật ứng xử tuyệt vời.
Không kể đến phiên tòa trước đây mà Kiều là bị cáo khi Thúc Ông thưa kiện, đưa Kiều ra tòa, chỉ riêng với phiên tòa trên, ngoài việc xem Nguyễn Du là một nhà tâm lý học lớn, còn có thể xem ông là một luật sư lỗi lạc, một nhà ứng xử học có tài?
Phạm Văn Đoàn – Sức khỏe & đời sống – Số 10 (718) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Nghệ thuật ứng xử (Phần 1)

Nguyễn Du và phiên tòa xử vụ đánh ghen
Đó là phiên tòa Thúy Kiều xử Hoạn Thư “trướng hùm mở giữa trung quân” trong một tình thế thật đặc biệt, “dưới cờ gươm tuốt nắp ra”. Nghĩa là cẩu đầu trảm đã sẵn sàng.
Ngồi ghế chánh án không phải là Bao Công “mặt sắt đen sì” mà là một trang quốc sắc thiên hương, “mặt hoa da phấn”. Chánh án cũng chính là nguyên cáo.
Trải qua mười năm bị đầy đọa, Kiều đã phải đối mặt với vô số ác ôn như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hà, Bạc Hạnh, Khuyển Ưng, Khuyển Phệ mà sao nàng lại chọn Hoạn Thư làm chính danh thủ phạm, con gái của một Thượng thư Bộ lại, có học, gia giáo. Tuy Hoạn Thư chưa một lần đánh đập Kiều nhưng con người này đã phạm một tội lớn, tội đánh ghen. Đối với phụ nữ đánh ghe là một tội tầy đình.
Đây là dịp tốt để Kiều trút lên đầu lẻ thù số một, gười tình địchc ủa mình những đòm sấm sét. Và cứ trông cái cung cách bề ngoài:
Thoắt trông nàng đã chào thưa
Tiểu thư cũng có bây giờ tới đây.
Ta thấy nàng đang nén cơn giận dữ để cho mình cái vẻ ngoài đon đả, dấu sau một nụ cười mỉa mai đầy thỏa mãn như nàng đã nói rõ với Giác Duyên “…xin hãy rốn ngồi, xem cho rõ mặt biết tôi báo thù”. Mở đầu nàng đưa ngay bản cáo trạng gói trọn 4 câu thật chặt chẽ:
Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.
Vâng, thưa tiểu thư, hôm nay tiểu thư cũng “hạ cố” tới đây. Đàn bà vốn xưa nay dễ dãi mà soa tiểu thư đã hành động như vậy đối với tôi. Bây giờ thử xem mặt, xem gan, xem mật của tiểu thư ra sao. Tiểu thư đã gieo gì thì gặt nấy. Luật nhân quả mà.
Bị cáo hoàn toàn bị đẩy một tình thế bất lợi. Nhưng con người này được cụ Nguyễn Du giới thiệu là một con người với những nét tính cách:
Ở ăn thì nết cũng hay
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Chính con người này:
“Khá nghe vườn mới thêm hoa”. Cũng đã từng nghĩ
Ví bằng nói thật cùng ta
Cùng dòng kẻ dưới mới là đạo trên
Nhưng trước một chàng Thúc ấp a ấp úng, cố tìm cách giấu quanh nên đã đi đến một quyết định dứt khoát: “Giấu ta ta sẽ liệu bề giấu cho”. Và tấn bi hài kịch có một không hai về ghen tuông đã diễn ra trong bữa tiệc tẩy trần lúc đầu chàng Thúc trở về nhà. Hoạn Thư đã “hành” Kiều và Thúc Sinh. Hành đến mức như vậy là “tuyệt đỉnh” là “mẫu mực”, là “kinh điển” của sự ghen tuông, một cách ứng xử ứng với con người mà Nguyễn Du đã tặng cho với cái tên “nhà ghen” “Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen” ngang với các “nhà” khác như: nhà văn, nhà thơ, nhà bác học, nhà sư,… khiến cho:
Nàng Kiều gẩy đàn khiên chàng Thúc thảng thốt, như mê như tỉnh, nửa khóc nửa cười:
Bốn dây như khóc như than
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Hành cho thỏa, cho đã như thế thôi. Nhưng rồi trước sự van xin của Thúc Sinh “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương”, nên đã cho Kiều ra Quan m Các nhưng với những ý đồ sâu xa mà chàng Thúc đâu có ngờ cái bẫy đang dăng sẵn cho Kiều bước ra khỏi nhà chàng”. Ta hãy xem con người như vậy đã ứng xử ra sao trước phiên tòa đặc biệt mà bản án tử hình đã thập thành.
Phạm Văn Đoàn – Sức khỏe & đời sống – Số 10 (718) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Mùa xuân dùng thuốc sống lâu

Con người với khát vọng cháy bỏng chinh phục vũ trụ đang từng bước vươn tới những vì sao xa xôi nhất. Thế nhưng chính bản thân chúng ta lại là một thực thể sinh học chứa bao điều bí ẩn mà khoa học đang tìm kiếm. Việc kéo dài cuộc sống tích cực cho con người đã, đang, và sẽ là mục tiêu của nhiều ngành khoa học. Trong công cuộc đấu tranh chống lại sự lão hóa của cơ thể, con người đã sớm nhận thấy cần có những phương thuốc trường sinh để kéo dài tuổi thọ. Song đến nay con người vẫn có một giới hạn, đó là tuổi thọ. Mặc dù giới hạn này đã được cải thiện rất nhiều. Trên thị trường hiện nay, có rất nhiều loại thuốc được giới thiệu với mục đích tăng tuổi thọ, kéo dài tuổi thanh xuân, nâng cao chất lượng cuộc sống. Một số thuốc được quảng cáo một cách thái quá dẫn đến những ngộ nhận về các thứ “thần dược” này. Chẳng hạn như melato-nin, một hormon của tuyến được tổng hợp từ những năm 50 của thế kỷ này. Melatonin được giới thiệu như là một thuốc kéo dài tuổi thọ; tuy nhiên việc sử dụng nó một cách tràn lan ở các nước u, Mỹ cũng đang gặp những sự phản đối của các nhà khoa học. Ai dám chắc rằng melatonin không gây ra những tác hại lâu dài cho cơ thể con người. Một số hormone sinh dục như owsstrogen được dùng cho phụ nữ sau mãn kinh với lợi ích trông thấy như làm cho cơ thể trẻ lại. Tuy nhiên người ta cũng cảnh báo về bệnh ung thư khi sử dụng loại hormone này. Một hormone của tuyến thượng thận là tiền chất của owsstrogen, và testosteron có tác dụng làm tăng sinh lực, kích thích tình dục, tăng cường hoạt động trí não. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là tuổi thọ được kéo dài khi mà nguy cơ về ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú lại được nhắc đến. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý có sử dụng nhiều hoa quả và rau xanh có lẽ là phương thuốc kinh tế và hữu hiệu hơn cả. Việc cơ thể tiếp nhận các vitamin như A, C, E qua đường dinh dưỡng đã được ghi nhận những tác dụng tích cực đối với cơ thể trong việc ngăn chặn sự lão hóa. Và có lẽ đây là một trong những Phương thuốc trường sinh kinh tế nhất. Nếu kết hợp một cách hợp lý chế độ dinh dưỡng này kèm theo một chế độ sinh hoạt thoải mái, giảm đến mức tối đa các yếu tố độc hại, căng thẳng thần kinh, tránh xa stress… thì tuổi thọ con người sẽ không bị giới hạn ở “trăm tuổi” nữa. Để cho tuổi thanh xuân ở lại lâu hơn với mỗi đời người, dùng thuốc chỉ là một biện pháp nhất thời nếu cần phải sử dụng. Chính mùa xuân với những tia nắng và nụ hoa đồng nội e ấp trong bờ cỏ, biết đâu đấy lại là phương thuốc kỳ diệu nhất. DS Lê Quốc Thịnh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 1+2 (762+763) – 1998

Trả lời bạn đọc

Hỏi: Trước đây tôi đi bộ đội và được đào tạo qua lớp y tá 12 tháng. Khi hết nghĩa vụ tôi được về địa phương và tiếp tục đi học lớp y học dân tộc 12 tháng sau đó về công tác tại trạm y tế xã đến nay được 3 năm. Bây giờ tôi có ý định muốn đi học thêm lớp y học dân tộc (Đông y) trung cấp hoặc đại học nhưng không biết cụ thể thủ tục đăng ký học dự thi ra sao gồm những thủ tục gì? Nếu thi gồm những môn nào? Nộp hồ sơ và đăng ký dự thi ở đâu? Thời gian học trung cấp, đại học là bao nhiêu?
Nguyễn Hoàng Giang
Trạm y tế xã Minh Tân – Kính Môn – Hải Dương
Trả lời: Tất cả các cán bộ xin đi học đều phải làm hồ sơ tuyển sinh gồm có:
Đơn xin học.
Lý lịch cán bộ có xác nhận của thủ trưởng cơ quan, có dán ảnh và đóng dấu giáp lai.
Bản sao bằng tốt nghiệp y tá, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên. Khi đến trường phải xuất trình bản chính để kiểm tra mới được vào học.
Giấy khám sức khỏe bệnh viện cấp.
Quyết định cử đi học của thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ.
Giấy chứng nhận là đối tượng ưu tiên tuyển sinh như đã ghi ở phần trên do thủ trưởng cơ quan ký.
Hai phong bì có dán tem thư.
Hai ảnh (chứng minh cỡ 4×6) của bản thân chụp trong 2 năm gần đây (1 ảnh dán ở lý lịch cán bộ).
Toàn bộ hồ sơ để trong phong bì cỡ 25×30 cm, ngoài phong bì ghi rõ họ tên và cơ quan công tác.
Khi nộp hồ sơ, phải nộp lệ phí do nhà trường quy định, thí sinh các tỉnh thành phố phía Bắc nộp hồ sơ tại Trường cao đẳng y tế Nam Định 365 Hàn Thuyên thành phố Nam Định hoặc lớp chuyên tu bác sĩ y tế cơ sở và chuyên tu bác sĩ y học dân tộc (tuyển từ y sĩ trung học và y sĩ cao đẳng, Trường ĐH y Thái Bình).
Thi tuyển sinh: tất cả các cán bộ đi học đều phải dự kỳ thi tuyển sinh các môn thi gồm có:
Môn thi chuyên môn theo ngành xin học. Nội dung thi theo trung học y tế về chuyên môn ngành đó.
Toán và hóa thi theo bộ đề thi tuyển sinh đại học tại chức do Bộ giáo dục và đào tạo ấn hành.
Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và văn hóa:
a- Các cán bộ xin đi dự tuyển vào các lớp, nếu là cán bộ trung học phải có bằng tốt nghiệp y sĩ, hoặc dược sĩ trung học. Bằng tốt nghiệp phải do các trường trung học y dược cấp. Thời gian đào tạo trung học y dược không dưới 2,5 năm học tập trung (hệ chính quy), 2 năm (hệ chuyên tu tập trung).
b- Về văn hóa: Cán bộ xin dự tuyển các lớp chuyên tu ĐH và cử tuyển chuyên tu đều phải có trình độ văn hóa trung học phải tốt nghiệp văn hóa cơ sở.
Trường hợp của bạn nếu đã được cấp bằng y sĩ được dự thi chuyên tu ĐH sau khi đi học 3 năm được cấp bằng bác sĩ.
Nếu thời gian học như trên bạn được cấp bằng y tá thì phải dự thi ĐH. Khi trúng tuyển, thời gian học là 6 năm sau đó được cấp bằng bác sĩ.
BBĐ – Báo Sức Khỏe & Đời Sống/Bộ Y tế – Hà Nội – 9-7-1997

Trước cửa thiền – Cuốn tiểu thuyết viết về người thầy thuốc

Những tác phẩm văn học viết về người thầy thuốc Việt Nam có thể đếm trên đầu ngón tay. “Một chuyện tình ở bệnh viện” của Bùi Đức Ái là cuốn đầu tiên được đánh giá cao và được dựng thành phim. Sau đó, kịch bản của 2 bác sĩ Trần Quán Anh và Vũ Dũng Minh (Tuyền tiến gọi và Đôi mắt) cũng được diễn đi diễn lại nhiều lần trên sân khấu. Đóng góp cho ngành y bằng văn học gần đây phải kể đến bác sĩ Hoàng Tuấn, nguyên Giám đốc bệnh viện Bộ Nội vụ. Chỉ dăm năm, anh đã cho ra đời 3 cuốn tiểu thuyết về ngành : Nỗi cô đơn còn lại, Miền giông bão, Đoạn kết một chuyện tình, cuốn nào cũng khá dày dặn.
Nhưng sau “Một chuyện tình ở bệnh viện”, có lẽ cuốn tiểu thuyết Trước cửa thiền của Phượng Vũ là cuốn thứ hai của nhà văn chuyên nghiệp viết về đề tài này.
Cuốn sách nhỏ gọn chưa đầy 200 trang, mang cái tên như viết về đạo Phật, khiến độc giả ngành y chưa chú ý đến. Nhưng khi đọc nó, phong cách viết điềm đạm, từng trải khi bàn luận việc đời, với những chi tiết, tình tiết chân xác về ngành y (của nhà văn từng viết Hoa hậu xứ Mường, dựng lại cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc Mường) đã cuốn hút tôi. Phượng Vũ viết về một tập thể y bác sĩ khoa tâm thần thời chống Mỹ, đã sơ tán tại chùa Là, một ngôi chùa cổ vùng đồng chiêm. Bối cảnh này y như một dụng ý triết học của tác giả, đối chiếu tiếng chuông, tiếng mõ cửa thiền với những số phận đau khổ của những cuộc đời chìm đắm trong mê loạn. Người bệnh tâm thần như sự khuếch đại những tham, sân, si của kiếp người, những tham vọng không thể đạt tới trở thành hoang đường. Nhiều căn bệnh cũng bắt nguồn từ những chuyện xấu của xã hội, đẩy người bệnh đến những hành động tâm thần. Bệnh nhân Hiếu, nguyên là một đứa con hoang, khi biết bố mình là một vị giám đốc thì ông này không dám nhận con, vì có thể làm uy tín của ông đổ vỡ khi ông đang ở thời điểm có thể leo lên chiếc ghế cao hơn. Hiếu chán đời, mấy lần tự tử, cái chết thành một ám ảnh hoang tưởng với anh. Bệnh nhân Tích thì có hoang tưởng mình là dòng dõi vua Minh Mạng. Suốt 10 năm làm vua không ngai trong khoa tâm thần mới được chữa khỏi. Có nhà tri thức ngỡ mình là một thiên tài vật lý bị trù dập …
Tác giả mất nhiều công hơn để khắc họa tính cách, mối quan hệ của tập thể y bác sĩ khoa tâm thần, đã dùng trí lực, lương tâm mình để cứu độ những con người đau khổ trên mà không phải bằng tiếng mõ hay tiếng cầu kinh. Lớp người này đối với nhau cũng không đơn giản. Có người chủ trương phải thô bạo với những bệnh nhân kịch phát, phải làm bệnh nhân sợ họ mới nghe lời bác sĩ. Có người chủ trương chỉ dùng lòng nhân ái, yêu thương người bệnh. Bàn làm việc của y sĩ Lương (chủ trương thô bạo) lại tình cờ đặt dưới tượng ông Ác, bàn làm việc của bác sĩ Quỳnh thì đặt dưới tượng ông Thiện. Cho nên bệnh nhân kháo nhau, chùa này có 2 ông Ác, 2 ông Thiện. Đó cũng là hai khuynh hướng đấu tranh với nhau trong nhiều năm giữa những người cùng làm nghề y.
Xuyên suốt và nổi bật giữa tập thể y bác sĩ là y sĩ Vân, một con người đẹp người đẹp nết, một “từ mẫu” thực sự của ngành y. Cuộc đời của Vân có một bí ẩn, tác giả giấu kín từ đầu sách, đến cuối cùng độc giả mới biết. Chị Vân thời thiếu nữ đã từng ở chùa, băng bó vết thương, từng nuôi dưỡng một chiến sĩ cuối thời chống Pháp dưới bệ thờ. Hai người đau đáu tìm nhau sau bao nhiêu năm. Đến khi gần 40 tuổi, chị mới gặp lại anh, chị lại cứu anh lần thứ hai khi đội cầu của anh bị bom Mỹ sát thương. Khi hai người nhận ra nhau thì anh được lệnh đi chiến trường B. Còn Vân thì cuối cùng bị hy sinh trong một chuyến đưa bệnh nhân đến trả cho gia đình.
Cái chết của một “thánh nữ” đã làm cho tập thể y bác sĩ phải thương tiếc, mỗi người bỗng nhận ra sự hẹp hòi vị kỷ của bản thân. Họ bỗng gần lại nhau hơn, tự tin hơn. Đó cũng là chủ đề của cuốn tiểu thuyết mang những tình cảm, ý tưởng nhân hậu và lòng xót thương giữa con người với con người. Tình cảm này càng cần thiết khi họ là những chiến sĩ của ngành y.
Vân Long – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Rò rỉ nước tiểu sau đẻ, vì sao ?

Thường là sau những cuộc đẻ có can thiệp : hoặc mổ hoặc phoóc-xép, hút, nội xoay, cắt rộng âm môn (épisiotomie). Vì sao ? Trước hết, phải loại trừ nguyên nhân “tiểu tiện không tự chủ”, tiểu vội vàng, khó nín, …nhưng vẫn tiểu thành bãi mặc dù tiểu đêm hoặc ngày khá nhiều lần, và không có liên quan đến sinh đẻ.
Trường hợp nói ở đây là rò rỉ nước tiểu gần như thường xuyên, khổ lắm!
Trên thực tế lâm sàng thường có các nguyên nhân hay tổn thương chính sau đây :
Do thần kinh, gây rối loạn hoạt động của cơ tròn, đóng mở bàng quang, sa thành trước âm đạo. Nếu điều trị nội khoa theo phương pháp kinh điển không đỡ – hoặc sa nặng quá, độ 3 – độ 4 thì phải mổ. Ngoài các thao tác mổ trong phẫu thuật phụ khoa thì phải nâng cao thành sau của bàng quang lên.
Do rò bàng quang – âm đạo hay gặp nhất, chẩn đoán thường dễ nếu lỗ rò ở thấp và to – Có lỗ rò có thể đút vừa quả trứng vịt vào bàng quang qua đường âm đạo – Vì thành sau bàng quang và thành trước âm đạo bị hoại tử rộng quá! Nếu rỏ thì đôi khi có thể tiểu thành bãi qua lỗ đái. Và khi thăm khám thì khó có thể sờ thấy lỗ rò, phải bơm thuốc xanh mêthylen vào bàng quang rồi quan sát nhờ mỏ vịt đặt vào âm đạo. Nếu rò vừa hoặc to, vừa đút ngón tay vào thì dễ phát hiện. Chỉ cần thăm vào âm đạo là thấy rồi.
Còn nếu rò quá to như nói trên, thì không cần phải nói, bao nhiêu nước tiểu đều qua lỗ rò, dầm dề suốt ngày đêm. Nhất thiết phải mổ, là loại mổ rất khó thành công, mặc dù nhiều tác giả đã tìm nhiều cách cải tiến.
Rò bàng quang – âm đạo thường xảy ra sau những can thiệp lớn như mổ, đẻ, … nên người ta thường nghĩ oan cho bác sĩ phẫu thuật. Thực tế là do đầu thai nhi đã lọt xuống tiểu khung rồi nhưng dừng lại quá lâu. Nó đè ép thành trước âm đạo và bàng quang vào mặt sau xương mu làm cho âm đạo và bàng quang thiếu máu nuôi dưỡng, bị hoại tử và thông thương với nhau. Vì vậy, gây ra rò nước tiểu từ bàng quang xuống âm đạo mà không chịu sự khống chế của cơ tròn nơi cổ bàng quang.
Rò bàng quang – tử cung : nghĩa là có sự thông thương giũa bàng quang và tử cung. Nước tiểu trong bàng quang 1 phần thải qua lỗ đái và đái thành bãi tự nhiên – 1 phần chảy qua tử cung rồi thoát xuống âm đạo qua lỗ tử cung. Trường hợp rò này có 1 dấu hiệu rất đặc biệt gọi là dấu hiệu YOUSSEF : hàng tháng trong mấy ngày hành kinh thì tiểu ra máu, vì máu kinh từ tử cung chạy qua bàng quang và đi ra ngoài. Nếu không có dấu hiệu này thì rất khó phát hiện bằng việc khám sờ bằng tay không vào âm đạo. Phải soi bàng quang hoặc vừa bơm thuốc xanh méthylen vào cổ tử cung và soi bàng quang ngay cùng lúc bơm.
Rò niệu quản – âm đạo : Niệu quản là một uống nhỏ bằng đầu đũa, dài khoảng 20 cm, dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Do cơ chế chèn ép của đầu thai nhi nói trên, đoạn niệu quản dưới cùng cũng có thể bị chèn ép vào 1 điểm ở sát âm đạo, cùng bị hoại tử và gây ra lỗ rò thông thương với nhau. Nước tiểu không đổ vào bàng quang mà đổ vào âm đạo nên rò liên miên. Cũng may là thường chỉ rò 1 bên. Niệu quản bên lành vẫn đổ vào bàng quang. Vì vậy, dấu hiệu nổi bật nhất của rò niệu quản – âm đạo là :
Rò rỉ nước tiểu liên miên nhưng vẫn có những bãi đái bình thường.
Rất khó phát hiện bằng thăm khám bình thường.
Phải chụp phim thận thuốc mới (VIV) hoặc soi bàng quang mới có thể xác định được chính xác bên nào để mổ cho đúng chỗ đúng bên.
Rò do tổn thương phần ngoài niệu đạo : Loại này thường do chuyên môn gây nên, khi cắt rộng âm môn để đầu sổ ra cho nhanh. Có khi cắt chạm vào niệu đạo. Chẩn đoán dễ vì dễ nhìn thấy. Mổ nói chung là không khó bằng các loại rò trên.
Tóm lại, các loại rò rỉ nước tiểu nói trên, nhất là rò rỉ bàng quang – âm đạo, rò bàng quang – tử cung, rò niệu quản – âm đạo là do các tổn thương thực tế hoàn toàn khác nhau. Người bệnh phải đến bệnh viện sớm, tốt nhất là đến chuyên khoa tiết niệu, để có điều kiện chẩn đoán và mổ xẻ chính xác được. Mong chị em chú ý, không e dè nấn ná, để càng lâu bệnh càng nặng, mổ càng khó, hai quả thận sẽ dễ bị suy yếu.
BS Nguyễn Bá Phiên – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Nhàu rừng

Nhàu rừng (Morinda citrifolia L.) thuộc họ cà phê (Rubiaceae), tên khác là nhàu núi, cây ngao, là cây nhỡ, cao 6-8m. Thân cành nhẵn. Cành non mập, có 4 cạnh rõ, hơi dẹt, có rãnh, màu lục hoặc nâu nhạt. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc thuôn hoặc hình nêm, đầu nhọn hoặc hơi tù, dài 12-30cm, rộng 6-15cm, mép uốn lượn, mặt trên xanh lục bóng, mặt dưới nhạt; cuống lá dài 0,5-1,2cm; lá kèm to, nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình đầu tròn hoặc hơi dài, mọc ở kẽ lá hoặc đối diện với lá, có cuống dài 1-1,5cm. Hoa màu trắng sau vàng nhạt, kết thành khối và dính nhau bởi đài. Tràng hoa hình ống có lông ở họng, 5 cánh hoa hình mác, nhị 5, chỉ nhị có lông; bầu 2 ô. Quả thịt gồm nhiều quả hạch dính vào nhau, hình trứng hoặc hình cầu lồi lõm, cao 3-4,5cm, khi chín màu trắng vàng hoặc hồng nhạt, chứa một lớp cơm mềm, ăn được. Mùa hoa: tháng 11-2; mùa quả: tháng 3-5.
Nhàu rừng rất quen thuộc với nhân dân miền nam. Cây được phân bố ở các tỉnh miền trung và vùng Tây Nguyên, thường mọc rải rác ở ven rừng thưa hoặc ở rừng cây lá rộng nhiệt đới nửa rụng lá.
Về thành phần hóa học, rễ nhàu rừng chứa morindon ở trong vỏ acid rubicloric, alizarin & methyl ether, rubiadin và nguyên tố vi lượng selen là chất cơ bản trong việc chống già. Gỗ thân nhàu rừng có một chất màu vàng. Quả chứa ít tinh dầu.
Về mặt y học, cây nhàu rừng cho nhiều bộ phận dùng làm thuốc, rễ được dùng nhiều hơn. Rễ nhàu rừng (loại rễ non tốt hơn) đào về, rửa sạch, tách lấy vỏ rễ, thái nhỏ, phơi khô, sao qua, rồi ngâm rượu, càng lâu càng tốt. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần một thìa canh để chữa nhức mỏi, tê bại, đau lưng. Hoặc lấy 10-20g rễ sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày, chữa bệnh tăng huyết áp. Dùng liền 1-2 tháng. Cao nước rễ nhàu rừng (5/1) có tác dụng tốt đối với chứng viêm khớp dạng thấp ở giai đoạn đầu.
Để chữa sỏi thận, có thể lấy rễ nhàu rừng phối hợp với rễ gừa, cù đèn, muồng trâu, thài lài, cỏ bấc, ngũ gia bì chân chim, vòi voi, quao nước với liều lượng bằng nhau, phơi khô, sắc uống. Rễ nhàu rừng (12g), thân cây ngũ trảo (12g), rễ hà thủ ô trắng (12g), dây thần thông (10g), rễ vòi voi (10g) thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, sắc uống chữa tê thấp, đau nhức gân xương. Rễ nhàu rừng với rễ gừa, vòi voi, cù đèn, tầm gửi, dành dành, chòi mòi, trinh nữ, lức, cỏ xước, củ gấu, ruối gai (lượng mỗi thứ bằng nhau), sắc uống lại chữa tê liệt, bán thân bất toại.
Quả nhàu rừng khi chín, ăn với muối có tác dụng dễ tiêu, nhuận tràng, giảm ho, lợi tiểu, điều kinh. Quả nhàu non (3 quả) phối hợp với rễ mía đỏ (10g), củ tầm sét (10g) thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa ứ huyết do ngã hay bị đánh. Quả nướng chín ăn có tác dụng chữa kiết lỵ. Nhân dân Quảng Nam lại dùng quả nhàu rừng chín chữa đau lưng rất hiệu quả.
Lá nhàu rừng để tươi, rửa sạch, giã nhỏ, đắp làm mụn nhọt sớm mưng mủ, mau lành, chóng lên da non. Lá phơi khô (8-10g) thái nhỏ, sắc uống chữa sốt rét, kiết lỵ, chứng hay nhức đầu, chóng mặt. Vỏ cây nhàu rừng sắc uống cho phụ nữ sau khi đẻ để chóng lại sức.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Ấn Độ, rễ nhàu rừng được dùng làm thuốc tẩy và hạ sốt. Dùng ngoài, rễ nhàu rừng giã đắp để giảm đau trong bệnh thống phong. Ở Trung Quốc, Nhật Bản nước sắc rễ nhàu rừng có tác dụng bổ, giảm sốt. Ở Malaysia, lá nhàu rừng giã nát, hơ nóng, đắp vào bụng để chữa đau bụng, vào ngực và họng chữa ho, buồn nôn.
Hữu Bảo – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 39 (747) – Năm thứ 36 – 1997

Lịch sử đã chứng minh một cách thảm thương là khi nhân dân mất chính quyền thì sẽ mất tất cả_Phần 2

“Thiếu sự đoàn kết, tất cả những hy sinh của chúng ta sẽ bị dìm trong biển máu một cách có hệ thống”
Thiên anh hùng ca đầu tiên trong lịch sử Cu Ba nhằm giải phóng khỏi ách thực dân trong cuộc chiến tranh Mười Năm đã thất bại chủ yếu do thiếu sự đoàn kết trong các chiến sĩ giải phóng Man-bi. Cũng do sự chia sẻ nội bộ mà trong đó yếu tố chủng tộc và thiếu sự chuẩn bị thỏa đáng mà cuộc Chiến tranh Nhỏ nổ ra tiếp theo sau cuộc Chiến tranh lớn cũng đã phải chịu chung số phận thất bại.
Tướng Antonio Maceo – vị Thánh đồng đen của dân tộc Cu Ba, đã khẳng định rằng “Thiếu sự đoàn kết, tất cả sự hy sinh của chúng ta sẽ bị dìm trong biển máu một cách có hệ thống”.
Thấu hiểu sâu sắc tính tất yếu lịch sử của sự đoàn kết thống nhất sau những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ, Jose Marti đã thành lập và đứng đầu Đảng cách mạng Cu Ba. Người đã thực hiện một sự nghiệp to lớn nhằm đoàn kết các cựu chiến binh và các chiến sĩ mới, khắc phục những mâu thuẫn trong hàng ngũ những người yêu nước để phát động lại một cách có kết quả cuộc chiến tranh tất yếu. Jose Marti đã để lại chìa khóa cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mạnh của ý thức độc lập, trong một không khí cách mạng và đứng trước sự xuất hiện không thể tránh khỏi của cuộc chiến tranh tất yếu, thì phải đoàn kết những người cách mạng lại cho sự nghiệp cao cả vững chắc. Chỉ có sự thống nhất của những người cách mạng mới có thể đưa đến sự đoàn kết trong nhân dân. Chính vì sự thống nhất và đoàn kết đó, Cu Ba đã giành được những thành tự tuyệt vời trong những năm qua. Đó là nạn tử vong trẻ sơ sinh từ 60 phần nghìn xuống còn 8 phần nghìn hiện nay. Đó là tuổi thọ trung bình của người dân gia tăng trong vòng 20 năm nay đang lên đến 75 tuổi. Và đó cũng là con số 40% người mù chữ trước đây đã được chuyển thành tỉ lệ bác sĩ cao theo đầu người, còn tỉ lệ giáo sư đứng hàng đầu thế giới.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Việt Nam và Cu Ba giống nhau biết bao trên những bước đường cách mạng, những giai đoạn gian truân nhưng đầy hào hùng. Nhờ có sự đoàn kết ấy mà quân dân Việt Nam đã chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ”, câu nói đó của Bác Hồ kính yêu cũng là lời khẳng định đanh thép của đồng chí Fidel Castro: “Chủ nghĩa xã hội hay là chết!”.
Hơn lúc nào hết, hòn đảo Cu Ba bất khuất đang phải đương đầu với một thứ chủ nghĩa đế quốc cực kỳ tinh vi, cố làm tiêu hao những cơ sở đạo đức của Cách mạng để chống phá ngầm từ bên trong. Chúng đang tìm mọi cách khuyến khích tính ích kỷ trong người dân Cu Ba, tình trạng vô chính phủ và thói tiêu thụ quá mức. Chúng cũng đang âm mưu sáp nhập Cu Ba vào đất Mỹ, sử dụng những nhóm Cu Ba lưu vong hòng lật đổ Nhà nước cách mạng Cu Ba và phục hồi chủ nghĩa tư bản.
Nhưng có một điều mà chủ nghĩa đế quốc vẫn không hiểu ra, và do đó chúng chắc chắn sẽ thất bại. Đó là lời khẳng định của Jose Martin “Điều là một người tham vọng, sẽ tiêu vong. Nhưng điều mà một dân tộc mong ước sẽ trường tồn. Đảng Cách mạng Cu Ba chính là nhân dân Cu Ba”.
Và trước những âm mưu điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc, hẳn chúng ta cũng còn nhớ câu nói nổi tiếng của Tướng Antonia Maceo – vị Thánh đồng đen của dân tộc Cu Ba “Kẻ nào dám xâm lược Cu Ba thì sẽ nhận lấy bụi tắm máu của đất nước này, nếu nó không bị tiêu diệt trong chiến đấu”.
Đó cũng là tinh thần Che Guevara tại Đại hội Đảng Cộng Sản Cu Ba lần thứ V vào tháng Mười tới.
Phạm Chí Dũng – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 41 (749) – Năm thứ 36 – 1997

Lịch sử đã chứng minh một cách thảm thương là khi nhân dân mất chính quyền thì sẽ mất tất cả_Phần 1

Ủy ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Cu Ba đã quyết định triệu tập Đại hội Đảng lần thứ V vào ngày 8/10/1997 là ngày kỷ niệm 30 năm Che Guevara và đồng đội hy sinh ở Bolivia ngày 8/10/1967.
Một lịch sử đấu tranh bất khuất:
Lịch sử đất nước Cu Ba nói chung và lịch sử Cách mạng Cu Ba nói riêng đã trải qua nhiều biến cố và thử thách dữ dội. Đã từ lâu, Cu Ba luôn là một trong những miếng mồi thèm muốn của giai cấp thống trị Bắc Mỹ. Một trong những tổng thống Mỹ đầu tiên là Thomas Jefferson đã biểu thị một cách rõ ràng nhất vào đầu thế kỷ XIX sự quan tâm của Mỹ là phải chiếm cho được Cu Ba. Năm 1820, tổng thống James Monroe của Mỹ đà tuyên bố thuyết “Trái chín” mà theo đó thì sau khi thoát khỏi ách đô hộ của Tây Ban Nha, Cu Ba sẽ rơi vào túi của nước láng giềng phương Bắc. Jose Marti – nhà cách mạng kiệt xuất của Cu Ba, đã đánh giá tầm quan trọng của mối đe dọa ấy, tố cáo nó, tổ chức những người yêu nước đương đầu với nó và hy sinh cuộc sống của mình cho cuộc đấu tranh ấy. Trong lời di chúc của mình ít lâu trước khi ngã xuống trên chiến trường. Người đã đưa ra lời cảnh báo sau đây: “Tôi đang hằng ngày đứng trước nguy cơ hy sinh tính mạng cho đất nước tôi và làm tròn nghĩa vụ của mình – bởi vì đó là điều tôi biết và tôi quyết định phải hành động – nghĩa vụ của tôi là phải ngăn chặn kịp thời bằng nền độc lập của Cu Ba, không cho Mỹ bành trướng đến các hòn đảo Antille, và với sức mạnh mới được tăng cường ấy. Mỹ sẽ tràn xuống các Tổ quốc châu Mỹ của chúng ta. Tất cả điều tôi làm đến hôm nay và tất cả điều tôi sẽ làm là không có mục đích nào khác”.
Cuối cùng, lịch sử đầy đau thương của hòn đảo Cu Ba đã kết thúc bằng chiến thắng vang đội của lực lượng cách mạng Cu Ba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro – người anh hùng của dân tộc – trước chế độ độc tài Batista thân Mỹ vào ngày 1 tháng Giêng năm 1959. “Tổ quốc đầy tình anh em và công lý”, như Jose Marti đã nói, đó là Tổ quốc mà nhân dân Cu Ba đã giành được bằng cả thế kỷ đẫm máu và nước mắt của mình. Nhưng cũng kể từ năm 1959 cho đến nay, Cu Ba phải liên tục đương đầu với Washington và đám tàn dư Batista ẩn náu chui rúc trên đất Mỹ. Đối với các nước châu Mỹ La Tinh, Cu Ba đã thực sự trở thành một tấm gương tỏa sáng trên mặt trận Tây bán cầu chống chủ nghĩa đế quốc.
Đã ít nhất 8 lần Fidel Castro bị CIA mưu sát, nhưng lần nào chân lý cũng chiến thắng. Thất bại của Mỹ càng trở nên bi thảm hơn khi mà tổng thống Kennedy phải công khai thừa nhận trách nhiệm không thể cứu vãn được của mình trong cuộc xâm lược bãi biển Giron của Cu Ba. Torricelli – một đạo luật ngược ngạo hà khắc của Mỹ chống Cu Ba, đạo luật mà bản thân nó đã là sự phủ nhận đối với các công ước quốc tế về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, cũng chỉ để lại một hậu quả nặng nề đối với chính phủ Mỹ khi nó nhận được hầu hết sự phản đối quyết liệt của các nước thành viên Liên hiệp quốc. Rồi kể cả sau đó, đạo luật Helms – Burton của Mỹ cũng trở nên một kiểu cách “cố đấm ăn xôi” càng làm cho mỹ lộ rõ chân tướng sen đầm quốc tế trong con mắt của kể cả những đồng minh thân cận của Mỹ từ trước tới nay.
Phạm Chí Dũng – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 41 (749) – Năm thứ 36 – 1997