Tác dụng của cây quyển bá

Chữa ho ra máu, nôn ra máu, tiểu tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, đau đầu, hoa mắt: Cả cây, bỏ rễ 20-30g, thái nhỏ, sắc uống làm hai lần trong ngày. Có thể sao tồn tính dược liệu mà uống.
Chữa bỏng lửa, trĩ ngoại: Quyển bá trường sinh phơi khô, tán bột mịn, trộn với lòng trắng trứng gà, đắp. Cứ 2 – 3 giờ, thay thuốc một lần.
Phụ nữ có thai không được dùng quyển bá trường sinh.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Triều Tiên, cây quyển bá tràng chim sao khô có tác dụng điều hòa kinh nguyệt. Ở Trung Quốc, cây này được dùng chữa ho, sỏi thận, sa trực tràng, chảy máu. Ngoài ra, nhiều loài quyển bá khác cũng được dùng làm thuốc chữa bệnh.
Danh ngôn về tình yêu và sắc đẹp
Hạnh phúc cũng giống như của cải, ta không có quyền tiêu thụ mà không sản xuất.
Bernard Shaw
Cái gì quyến rũ và đẹp chưa hẳn đã tốt mãi mãi, nhưng cái gì tốt thì bao giờ cũng đẹp.
Nion De L’enclos
Sắc đẹp chỉ cần trong lễ cưới còn tình yêu cần suốt đời.
Ngạn ngữ Nga
Chỉ có sự hy sinh và đừng đòi hỏi gì quá đáng thì tình yêu của chúng ta mới bền lâu mãi mãi.
Beethoven
Trần Sĩ Tuấn
Bà mẹ già run rẩy nắm tay tôi
Xin bác sĩ hãy cứu nhân độ thế.
Nghe mẹ nói mà lòng đau như thể
Một cái gì bóp nghẹt tim tôi…
Bởi biết rằng không thể… mẹ ơi!
Trước căn bệnh hiểm nghèo không làm sao cứu nổi.
Dẫu biết vậy tôi vẫn thấy mình dường như có lỗi
Trước nỗi lòng của mẹ thương con.
Người con trai đang hôn mê
Đâu biết được nỗi đau trời bể
Lát nữa thôi em sẽ đi rất khẽ
Một chuyến đi mãi mãi không về
Chiếc áo choàng nhẹ nhõm trên nhường kia
Mà đôi lúc tưởng chừng không mang nỗi
Khi không xoa dịu được nỗi đau của mẹ
Và nỗi đau không cứu được người.
Dược sĩ Hữu Bảo- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995

Than sinh hoạt cao cấp

Chất đốt là nhu cầu thiết yếu trong đời sống của nhân dân sau lương thực. Nhưng vấn đề đặt ra là dùng chất đốt gì và dùng như thế nào để đảm bảo trong sạch môi trường và bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng (mà phụ nữ và trẻ em là đối tượng chính trong công việc nội trợ). Vì vậy, tìm hướng tối ưu để giải quyết vấn đề chất đốt “sạch” là một khâu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của một địa phương, một quốc gia.
Hiện nay, ngoài việc sử dụng chất đốt cao cấp như khí đốt, điện và các nguồn năng lượng khác, nhân dân ta còn dùng rơm rạ, củi, than,.. để đun nấu là chính
Qua nghiên cứu, khảo sát nhu cầu sử dụng chất đốt của nhân dân ta đến năm 2010 sẽ có khoảng 15% dùng khí đốt, 20-25% dùng điện còn tuyệt đại đa số nhân dân (nhất là dân nghèo thành thị và nông thôn) sẽ sử dụng năng lượng sơ cấp như than chế biến, củi, rơm rạ,.. hiện tại có đến 80-90% hộ dân đang dùng than tổ ong để đun nấu.
Đốt than theo công nghệ chế biến cũ như hiện tại có ba nhược điểm và tác hại lớn. Một là: phải dùng củi để nhóm lò và phải quạt thổi. Mỗi lần nhóm ít nhất mất 2 lạng củi. Như vậy dẫn đến tình trạng vẫn tồn tại nạn phá rừng. Hai là: quá trình dun và ủ lò tạo nên khói và khí độc lớn, quá tiêu chuẩn cho phép, gây ô nhiễm môi trường nặng, có hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Bà là: than đốt công nghệ cũ nhóm lâu, hiệu xuất tỏa nhiệt chậm nên tốn nhiều thời gian đun nấu.
Để khắc phục tình trạng trên, nhóm chuyên gia năng lượng mới của Việt Nam đã nghiên cứu và chế tạo thành công loại than tổ ong mới có ký hiệu là “TOC”, với đặc tính: bén nhanh, không độc, không khói.
Về góc độ y tế và bảo vệ sức khỏe cho con người thì loại than mới này không những triệt tiêu được ba nhược điểm của loại than cũ mà con có những nét ưu việt nổi bật: sử dụng thuận tiện, giữ trong sạch môi trường và hạn chế nạn phá rừng. Do đặc tính của loại than mới này là bén nhanh (nhờ chất xúc tác gây bắt cháy nhanh) nên chỉ cần một tờ giấy loại A4 hoặc một que diêm nhóm trong vòng 30-60 giây. Than cháy không gây độc hại, không khói, và không gây ô nhiễm môi trường. Than cháy ngược từ trên xuống nên khí độc bị triệt tiêu bởi ngọn lửa. Nồng độ khí cacbon oxyt (CO) chỉ có 1.5mg/m (giảm 16 lần so với tiêu chuẩn Việt Nam cho phép). Trong khi đó nồng độ khí Clo bằng 0: nồng độ khí SO2 chỉ chiếm 25% (giảm 4 lần so với tiêu chuẩn Việt Nam cho phép).
Hoài Anh – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – 1995

Nuôi chó và mèo được và mất gì?

Ở các nước nghèo và nhà nghèo, nuôi chó, nuôi mèo theo kiểu truyền thống thì chẳng tốn phí gì mà được nhiều việc. Gần đây, như ở nước ta, có quiyđịnh chủ nhà phải có trách nhiệm và bỏ tiền tiêm phòng chó dại… Thật ra, quy chế và thi hành chưa chặt chẽ. Vẫn xảy ra những trường hợp chết người vì chó dại. Và Nhà nước tiêu tốn rất lớn!
Ở u Mỹ, để làm bạn với các cô chú cẩu và miêu, với cách nuôi văn minh, hiện đại, bù cho cái được người ta trả giá đích đáng. Tại Pháp, cứ hai hộ có một hộ nuôi một hoặc hai con vật thân thuộc ấy, tính tổng số lên đến 42 triệu con, nhiều nhất châu u. Phí tổn toàn bộ của các gia đình một năm cho công việc ấy tính ra hết 300 tỷ phrang tức là khoảng 5.5 tỷ đô la. Nhưng mức ấy mới bằng 40% so với ở Anh, vì “tiêu chuẩn” ở Anh cao hơn nhiều, người ta sử dụng các thức ăn chế biến đặc biệt, cho chó, mèo chiếm đến 70% tổng lượng calôn cung cấp cho chúng. ở Mỹ, tỷ lệ ấy là 80%, tiến hành theo chế độ ăn khô, tức là thức ăn chế biến dưới dạng hạt nho, có lợi hơn với cả về các mặt
Vốn đầu tư cơ bản, tức là tiền mua con vật từ các nhà nuôi chó kinh doanh. Họ bán ra ở Pháp mỗi năm 70 vạn con. Chủ nuôi phải chỉ cho mỗi chú cẩu mang về nhà từ 500 đến 5000 phrang, tùy loại. Thêm vào đó, cần có chuồng, ổ, đồ đựng thức ăn… và bể cá cảnh cho các cô chú ấy tiêu khiển(có 19 triệu con cho được hưởng thú ấy); chi phí tính toàn về phần này khoảng 1.5 tỷ phrang
Còn phải bảo vệ sức khỏe, đưa đến các bệnh viện chuyên trị liệu nếu con vật cần được chăm sóc. Có 340 thấy thuốc thú y hành nghề, bình quân mỗi người đạt doanh thu hằng tháng 150.000 phrang. Ngành bảo hiểm cho chó và mèo bắt đầu mở ra. Ở Pháp mới có 120.000 con được bảo hiểm, tổng chỉ chừng 500 triệu phrang. Ở Anh, số mèo, chó được bảo hiểm lên đến nửa triệu con. Công phu chăm sóc ở Mỹ còn tiến xa hơn: có các chuyên gia tâm thần học làm dịch vụ theo yêu cầu của gia chủ và có cả thợ cắt tóc làm đẹp cho mèo.
Bác sĩ thú y Jean Michel Michaux, giáo sư trường Maisond-Alfort, tư vấn của Paris, mới đây có một báo cáo nhan đề “Con vật và người thành phố”.
Quả thật những người bỏ ra các khoản tiền dư thừa để tạo cho mình nguồn vui nhàn hạ ấy có góp phần mở mang một số nghề sản xuất và dịch vụ, giúp các nhà kinh doanh ấy thu lợi rất hời. Những người dân Paris đóng thuế tự hỏi: mỗi năm chính quyền thành phố phải chi 40 triệu phrang để tổ chức cả một đội người và xe mô tô chuyên dùng đi hốt phân chó trên các lề đường, vậy họ được gì?
Lê Đức – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – 1995

Mại dâm ở vùng biên giới

Thâm tệ hơn, nhiều chị em bị lừa gạt đưa vào các quán rượu, quán cơm, nhà hàng ép buộc phải “tiếp khách” và không ít người trở thành gái bán dâm tội nghiệp. Nguyễn Thị Đường 24 tuổi ở xã Dân Phụ, Hoài Đức, Hà Tây học hết lớp 7 rồi ở nhà làm ruộng.Quanh năm đầu tắt mặt tối lam lũ, nhưng đồng tiền thu về không bằng một chuyến chạy hàng quần áo từ Trung Quốc về bán. Theo người dắt mối, chị tìm đến với bờ ảo vọng đó. Qua nhiều tay, nhiều cửa cuối cùng chị bị bán cho Trần Thị Yên 27 tuổi, chủ một quán cơm ở thị trấn Quang Bình, Trung Quốc. Ngày 10-6-1995, chị được Trần Thị Yên giao việc chạy bàn phục vụ khách. Nhưng chỉ sang ngày hôm sau, Thị Yên đã ép Nguyễn Thị Đường phải bán dâm ngay tại quán cơm.Thân gái dặm trường, nơi đất khách quê người, chị Đường làm sao có thể cưỡng lại được. Rất may cho chị Đường là vụ việc đã được Phân cục công an Đông Hưng Trung Quốc phát hiện.
Trong vụ việc này, còn có thêm nạn nhân là Nguyễn Thị Tâm ở xã Lâm Đồng, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ngày 14-5-95 công an Trung Quốc đã trao trả các đối tượng trên cho phía Việt Nam. (Thị Yên quê ở An Lão, Hải Phòng sang thị trấn Quảng Bình lấy chồng từ năm 1989. Thị Yên mở quán cơm và lấy đó làm nơi chuyên môi giới một số đối tượng mua bán phụ nữ ở Việt Nam để buôn bán phụ nữ và tổ chức hoạt động mại dâm). Đáng tiếc là tình trạng lừa bán phụ nữ không còn mới lạ. Nhưng nhiều người vẫn mất cảnh giác không đề phòng được những chuyện xấu có thể xảy ra. Nhẹ dạ cả tin đi theo một số đối tượng mong có công ăn việc làm hoặc được giúp đỡ trong buôn bán. Đã có không ít trường hợp bị người quen, hàng xóm láng giềng lừa bán và cũng thật đáng tiếc rằng không ít chị em suy nghĩ quá đơn giản về cuộc sống, buông trôi theo hoàn cảnh. Phạm Thị Yên năm nay mới 21 tuổi quê ở Tam Thanh, Vĩnh Phú lên Hà Nội chơi vào dịp đầu năm 1995. Được bà Lý là một hàng xóm với gia đình người quen rủ rê, Yên sẵn sàng lên Tân Thanh để tìm việc làm. Ở cửa khẩu Tân Thanh, (Lạng Sơn) hoạt động buôn bán sầm uất, đủ các loại dịch vụ. Yên được nhận vào phục vụ cho quán cơm thị Tiến với tiền công hai trăm nghìn đồng một tháng, không kể ngày hai bữa cơm. Với mức tiền như vậy cho cuộc sống hiện nay không phải là tươm tất gì, nhưng đối với các cô gái từ vùng nông thôn ra, không phải chân lắm tay bùn mà có việc làm ổn định thì đó là một điều mơ ước.
Bắc Văn – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – 1995

Nỗi đau thân xác của “eva”

Phương pháp diệt chuột thông dụng hiện nay là dùng loại bả chuột mà sau khi ăn ba bốn ngày chuột vẫn chưa bị trúng độc, sau khi ăn tiếp trong mấy ngày, độc tố mới tăng lên, trong vòng từ 5 đến 7 ngày chuột mới chết. Phương pháp diệt chuột này rất hiệu quả. Nếu mọi người thống nhất sử dụng loại thuốc này, trong vòng 10 ngày có thể diệt hết chuột ở những vùng có mật độ chuột tương đối đông.
Chuột là động vật thích lưu động, chuột ở vùng này bị diệt thì chuột ở vùng khác kéo tới lấp chỗ trống. Hơn nữa sau khi một số lớn chuột bị diệt, số ít còn sống sót nếu môi trường sống được cải thiện, chúng lại sinh sôi nảy nở rất nhanh chóng, do vậy thuốc diệt chuột không phải là biện pháp hữu hiệu nhất. Đứng về một góc độ khác mà xét, loài người cũng không cần thiết phải diệt sạch loài chuột, nếu diệt sạch chuột thì kẻ thù của chuột cũng không sống nổi, do vậy biện pháp cơ bản nhất là xử lý môi trường, giảm bớt mật độ chuột, giữ gìn sự cân bằng sinh thái.
(Năng lực tồn tại của loài chuột)
Việc làm ! Xưa nay người ta thường nghĩ chỉ có dân thành phố mới phải đi tìm lời giải cho câu hỏi đó. Còn ở nông thôn đã có mấy sào khoáng sản, lo gì phải đi đâu ? Nhưng trong hoạt động của cơ chế thị trường hiện nay, người ở nông thôn trong thời vụ nông nhàn đi tìm việc làm ở nơi thành thị nhiều khi như một làn sóng di dân tỏa khắp bốn phương. Chợ lao động đã mọc lên như nấm từ đó. Khổ thay cho chị em phụ nữ chân yếu tay mềm làm sao có thể cạnh tranh với các đấng mày râu sức dài vai rộng.
Ai được làm “Osin vủa Việt Nam” (giúp việc trong các gia đình) cũng đã là một may mắn. Biên giới mở của như mở ra một nguồn hy vọng cho bao chị em ? Ở một thời, việc qua lại biên giới chưa đi vào nề nếp quy củ, công tác kiểm soát quản lý còn lỏng lẻo sơ hở nên nhiều người làm giàu nhờ buôn bán. Thời kỳ tranh tối tranh sáng qua rồi, để có được đồng tiền đút vào túi ngày càng khó và thế là người ta nghĩ đến đủ mọi chuyện làm ăn phi pháp : Tệ nạn xã hội ở khu vực biên giới lan tràn và người phụ nữ đã trở thành những nạn nhân chính. Nghe lời đường mật của các Sở Khanh qua biên giới để mua hàng hơn 5000 phụ nữ đã bị lừa bán sang Trung Quốc. Ngày 20-6-1995, Đồn biên phòng Tà Lùng (Cao Bằng) phát hiện Bễ Thị Bằng, Hà Thị Đoàn (Quảng Hà, Cao Bằng) bị lừa bán sang Trung Quốc từ tháng 7-1993 nay trở về. Họ đều là những người đi buôn bán tìm việc làm rồi bị lừa bán qua Trung Quốc.
Bắc Văn – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – 1995

Bạn đọc và cộng tác viên liên hệ

Bài gửi đăng báo và mọi thư từ trao đổi xin các bạn gửi đến:
Báo Sức khỏe và Đời sống, 138A Giảng Võ, Hà Nội.
Vĩnh Phú chia sẻ quyền và trách nhiệm với người nhiễm HIV/AIDS
Mặc dù cho tới ngày 1-9-1995, Vĩnh Phú mới chỉ phát hiện được một ca nhiễm HIV, nhưng công tác phòng chống nạn dịch thế kỷ đã được coi trọng nhiều năm nay. Ủy ban phòng chống AIDS của đồng chí Phó chủ tịch làm Chủ tịch với các thành viên thuộc đủ các ban, ngành trong tỉnh. Sau hai năm hoạt động, tỉnh đã mở được 200 lớp tập huấn chuyên môn cho các cán bộ chủ chốt với trên 20.000 lượt người nghe. Ngành y tế đã mở các lớp tập huấn về giám sát dịch tể học, an toàn truyền máu, vô khuẩn trong dịch vụ y tế, phòng bệnh lây truyền qua các đường tình dục… Công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên thông qua đài phát thanh, đài truyền hình, báo của tỉnh. Cuộc thăm dò gần đây cho thấy khoảng 60% người dân ở nông thôn, 30% cán bộ nhân viên và 70% các đối tượng nghiện hút, mai dâm có hiểu biết về AIDS. Trong năm 1994, 1995 toàn tỉnh đã tiến hành được 6.558 xét nghiệm phát hiện HIV cho các đối tượng có nguy cơ cao, xây dựng hai phòng tư vấn về AIDS.
Theo số liệu điều tra năm 1995, Vĩnh Phú có 1.600 người nghiện hút, 350 gái mại dâm, dự kiến số người nhiễm HIV còn tăng nhanh trong những năm tiếp theo. Bởi vậy trong thời gian tới, song song với việc đẩy mạnh công tác truyền thông, đảm bảo an toàn truyền máu và triệt để vô khuẩn trong các dịch vụ y tế, tỉnh sẽ tổ chức tiến công mạnh vào tụ điểm nghiện chích, cờ bạc, mại dâm…
Việc quản lý, chăm sóc không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS đang thực sự là một thách thức đối với cán bộ y tế ở đây.
Nuôi cấy thành công tế bào sừng ở Việt Nam
Học viện quân y đã nuôi cấy thành công tế bào sừng (keratinocyte) để điều trị vết thương bỏng và các vết thương phần mềm khác.
Quá trình nuôi cấy qua các giai đoạn: Nuôi cấy tế bào sợi lấy từ phôi chuột (15 ngày tuổi) hoặc từ phôi gà (từ 8 đến 10 ngày); nuôi cấy và làm tăng sinh tế bào sừng trên nền tế bào sợi đã nuôi cấy; tách và ghép tế bào sừng lên vết bỏng và vết thương. Năm 1995, ghép thành công cho 5 bệnh nhân bỏng tại Viện bỏng quốc gia Lê Hữu Trác.
Hồng Ngọc- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995

Hai tay thợ điện rởm

Họ lại thì thầm mờ ám với nhau, lại chỉ trỏ một hồi, thế là quay bước trở ra, vẻ mặt đầy thất vọng.
Lần trước, vừa nhìn thấy hai gã này, họ Lỗ đã nghi ngờ liền. Vẻ mờ ám và tướng mạo chẳng mấy lương thiện của chúng ta đã làm anh chột dạ ngay tích tắc đầu tiên chạm mặt. Chỉ tiếc là, bữa đó, chàng “lù đù” quá, đã để chúng sống mất. Hôm nay đây, vẫn đang trong tư thế chờ đợi của chàng, chúng lại đến. Chàng nắm chặt tay, tự nhủ với mình : “Lần này thì không thể để bọn này chuồn được !”. Thế là chàng vội vàng chạy xuống, ra khỏi nhà, lặng lẽ bám theo hai tay kia.
Một cuộc “săn bắt” đã bắt đầu mà hai người đàn ông kia hình như chưa hay biết gì. Họ bước trước,chàng họa sĩ bám theo, khoảng cách cũng khá xa. Chàng sợ rút ngắn khoảng cách sẽ bị lột tẩy, vì hình như cái mặt của chàng đã không lạ đối với bọn kia. Họ cứ đi, không hề quay đầu lại ; chàng bám theo, thận trọng và lòng khấp khởi. Ai ngờ, sau khi hai tay kia sang đường, bỗng nhiên đèn giao thông báo đỏ. Xe cộ dừng lại, ùn tắc một đoạn dài. Chẳng cần vội vàng, hai tay kia ung dung bước lên một chiếc tắc-xi đợi sẵn ở bên đường. Xe rồ máy lao vọt đi, vừa khi đèn đường báo xanh…
Còn nữa
Tiểu phẩm vui
Sáng chủ nhật. Hai chị em Thu và Xuân đang cùng lúi húi chuẩn bị sách vở để giải quyết cho hết bài vở trong tuần… Ông Hội ngồi xem báo, thỉnh thoảng liếc nhìn hai đứa con vừa ngoan vừa học giỏi, nhất là cậu con trai – vẻ phấn khởi hiện rõ trên nét mặt.
Xuân vừa loay hoay giở mấy tờ báo cũ bố mới cho để bọc vở, vừa tranh thủ liếc đọc một vài cái tít nổi bật trên trang báo. Cậu chợt tò mò đọc lướt mẩu tin về vụ cháy lớn gần đây ở thành phố rồi hỏi bố :
Bố ơi, “thiên tai” là thế nào hở bố ?
Ông Hội chưa kịp trả lời thì Thu đã quay sang hạch em :
Em học lớp 9 rồi mà dốt thế ? “Thiên tai” là tai họa do trời gây ra chứ còn là gì nữa !
Xuân nguýt chị :
Em chẳng dốt như chị tưởng đâu ! Ý em muốn hỏi bố : Sao báo người ta lại coi vụ cháy chợ gần đây ở thành phố mình là một “THIÊN TAI”, chị đã hiểu chưa ?
Ông Hội tủm tỉm cười rồi nói :
Đúng là dốt đấy, con ạ ! Người ta chỉ có ý so sánh cái vụ cháy lớn dã gây thiệt hại nặng nề cho dân như một vụ “thiên tai”, con hiểu chưa ?
Tôn Liễu Hồng (TQ) – Chu Xuân Giao (dịch) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Vài giải pháp cho ô nhiễm

Trước thực trạng ngày một xấu đi của bầu không khí trong lành, nhà nước đã ban hành luật bảo vệ môi trường. Thế nhưng, làm thế nào để toàn dân hiểu được nguyên nhân ô nhiễm và làm chủ trong việc bảo vệ môi trường ? Trong “chiến lược bảo vệ môi trường thủ đô”, Sở khoa học – công nghệ – môi trường Hà Nội coi việc tuyên truyền nâng cao dân trí về bảo vệ môi trường làm gốc. Báo chí, phát thanh, truyền hình được đánh giá là phương tiện chủ yếu để tuyên truyền – giáo dục. Việc tuyên truyền phải được thường xuyên, liên tục, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ gây ấn tượng cho quần chúng theo phương châm “mưa lâu thấm đất”. Các báo của thủ đô nên dành một chuyên mục để tuyên truyền – tranh luận về vấn đề này. Đài truyền hình trung ương, Đài truyền hình Hà Nội, Đài phát thanh cần có mục “Một phút về môi trường”, hoặc “Bảo vệ môi trường” để phát đi những thông tin mới nhất về diễn biến môi trường sống hiện nay và hướng dẫn mọi người trong việc bảo vệ môi trường. Nhân ngày môi trường thế giới hàng năm, cần tổ chức các triển lãm tranh – ảnh hoặc tổ chức các cuộc thi sáng tác về thơ, ca, truyện… về đề tài môi trường để người dân cảm nhận được bảo vệ môi trường là một nhu cầu bức bách cần thiết ở mọi nơi, mọi lúc. Bên cạnh đó, Bộ KHCNMT, Bộ giáo dục có thể nghiên cứu soạn giáo trình để đưa nội dung giáo dục về môi trường vào các trường học từ mẫu giáo đến đại học và coi đây là môn học mang tính quốc gia. Việc dạy trong nhà trường sẽ được thực hiện từ những kiến thức sơ đẳng nhất như bảo vệ cây xanh, giữ gìn đường phố cho đến việc xử lý ô nhiễm, xử lý chất thải công nghiệp, rác, nếp sống đô thị… Và nếu có thể được, sẽ đào tạo những lớp cán bộ đạt tầm cỡ quốc gia và quốc tế về vấn đề này.
Song song với những nỗ lực tuyên truyền, Nhà nước cần có những biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Từ trước tới nay hầu như việc xử phạt các cơ sở, cá nhân gây ô nhiễm là rất hãn hữu, phần vì trang thiết bị do độc hại thiếu, phần vì các cơ quan chức năng chưa có quy định và giám satschawtj chẽ trong lĩnh vực này. Để thực hiện tốt việc này, Bộ KHCNMT có trình với Nhà nước văn bản xử phạt những cơ sở gây ô nhiễm nặng. Những cơ sở :
T.T.V – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Giảm gia tăng dân số

Như chúng ta đã biết, gia tăng dân số không phải là nguyên nhân duy nhất làm suy thoái môi trường. Nhưng sự tăng nhanh dân số kéo theo việc khai thác vô tội vạ tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến hủy hoại môi trường.
Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học, những người làm công tác bảo vệ môi trường đều cho rằng : Con người là thủ phạm chính trong việc hủy hoại môi trường sống, nhất là nạn phá rừng.
Năm 1943, ở nước ta có 19 triệu hécta rừng nay chỉ còn 7,8 triệu hécta. Bình quân mỗi năm diện tích rừng bị phá hủy là 0,2 triệu hécta. Với tốc độ bị tàn phá như vậy có lẽ nào thế kỷ 21 nước ta sẽ không còn rừng.
Diện tích rừng giảm nhanh đã làm thay đổi khí hậu. Những năm gần đây nhiệt độ trung bình tăng vào mùa hè và giảm vào mùa đông. Mưa lũ ngày càng tăng đã làm cho hàng chục triệu hécta đất bị bào mòn trở thành đất trắng, đồi trọc. Đó là chưa kể nhiều loại động, thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tiệt chủng do bị săn bắn và khai thác bừa bãi.
Rừng Tây Nguyên – vùng có mật độ dân tính theo đất có khả năng nông nghiệp thấp nhất. Năm 1979 mật độ dân số là 90 người/km2 đến đầu năm 1989 đã tăng lên 170 người/km2. Thêm vào đó cuộc sống du canh du cư và kỹ thuật canh tác thô sơ của đồng bào dân tộc ít người làm cho dải đất miền Trung vốn đã hẹp lại ngày càng hẹp hơn do rừng bị tàn phá.
Nhằm ngăn chặn sự suy thoái của môi trường, một trong những yêu cầu cấp bách là giảm nhanh việc tăng trưởng dân số. Muốn làm được điều đó phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền đối với công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình. Xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức công tác này ở các cấp, cũng như sự phối hợp tốt với các ban, ngành, đoàn thể.
Đẩy mạnh công tác thông tin – giáo dục – truyền thông bằng nhiều loại hình với nội dung phong phú, hấp dẫn để người dân nhận thức được công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là trách nhiệm của cả cộng đồng chứ không phải của riêng ai.
Hơn thế nữa, nguồn kinh phí cần đảm bảo kịp thời, đầy đủ để củng cố mạng lưới làm dịch vụ kế hoạch hóa gia đình ở cơ sở nhằm đáp ứng đúng yêu cầu của người dân để công tác này ngày càng hiệu quả hơn.
Tóm lại, Dân số và Môi trường là hai đề tài nóng bỏng song song với nhau. Để đảm bảo sự sống lâu bền cho trái đất, con người không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải giảm nhanh tốc độ gia tăng dân số và bảo vệ môi trường. Đây chính là trách nhiệm của mỗi công dân trong cộng đồng xã hội.
Lê Văn Trường – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Trang phục, nếp sống người thăng long thời lý

Dân thường đều đi chân đất. Đàn ông mặc màu thâm, đàn bà dùng sắc trắng, áo cánh viền cổ nhỏ, có cả lụa, lĩnh, sa, the, nái, sồi và cả vải bông gai… Tai đeo khuyên bạc.
Quân sĩ đóng khố cởi trần. Quân cấm vệ trên trán khắc ba chữ Hán: “Thiên tử binh”, xăm ngực, xăm đùi và xăm bụng! Từ vua đến dân ai cũng xăm mình. Mô típ trang trí trên thân thể, hoặc hình rồng, hoặc “vẽ như lối văn khắc trên trống đồng” (lĩnh ngoại đại đáp) hay văn hình móc câu khuất khúc như trên đỉnh đồng, hi đồng thời cổ. Tóc thường gội dầu thơm, lúc ở nhà thì để đầu trần, khách tới thăm mới đội khăn.
Vào triều yết, trăm quan mặc áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da đỏ, nạm sừng tê, sau thêm hình cá bằng vàng.
Võng cáng giống Chiêm Thành, Chân Lạp. Võng bằng vải như cái túi, dùng đòn dài mà khiêng, trên có mui dài, dùng lá cây trang sức như lớp vảy cá. Quan đi võng, hai người khiêng, hai người đi theo hộ giá. Về sau, cuối thế kỷ XII mới bắt chước Trung Quốc, làm kiệu thừa lương bằng gỗ, sơn đen, thiếp vàng, hai đòn kiệu đều ngắn, mưa tạnh đều dùng được. Vua ngồi xe dát ngọc, dát vàng, quạt lông trĩ che hai bên, màn cửa võng bằng bạc rũ bốn phía, lọng vàng giương lên cao, cờ sắc phấp phới…
Cấm quân mới được thích rồng ở đùi, xăm ở ngực. Cấm gia nô các nhà vương hầu, quan liêu bắt chước cấm quân xăm hình rồng trên người, ai phạm bị sung công.
Đứng người hầu trên phải khoanh tay, yết kiến vương hầu quý tộc phải quỳ lạy hay vái ba cái.
Từ vua chí nô tỳ đều nhuộm răng đen, ai cũng thích ăn trầu cau. Thích ăn củ chua và ăn mặn.
Uống rượu khá nhiều, bất kể sang hèn.
Vua ở nhà lầu bốn tầng, cột sơn son, vẽ rồng hạc và tiên nữ. Dân ở nhà tranh, vách đất, ba gian. Nơi gần hồ, đầm ngay giữa kinh thành, vẫn còn có nhà sàn.
Trời nóng nực, toàn dân kinh thành thích ra sông tắm. Ai nấy đều giỏi bơi lội, giỏi chèo thuyền. Kinh thành khi lũ lụt đều phải đi lại bằng thuyền. Thuyền nan của dân, thuyền lầu của vua quan. Chiếc thuyền ngự của Lý Nhân Tông đi cùng đoàn chiến hạm hàng nghìn chiếc, tới lui trên sông nước Đông Bộ Đầu. “Chế thuyền ngự tinh xảo kỳ lạ, làm hình liên nạm tráng hùng, dựng kiểu nghìn thuyền tú lệ, trên dựng lầu cao vòi vọi, mái che cao ngất; ghế vua ngồi đặt cao ở giữa, treo gương sáng xa trong. Hai bên thì trưng gấm vóc rõ ràng, phi tần, thể nữ rộng chỗ đứng hầu; đem chứa chan ngọc châu trang sức, đủ cả phòng ở cửa tam cung. Sớm giữa dòng chiếu rạng, tưởng như giao long há miệng đốt sóng xô, chiều dừng lại bên bờ, ngỡ rằng ngao rùa nhô lưng đội ngân hán!” (Văn bia tháp Thiên Diên Sùng Linh).
Phạm Vĩnh – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995